Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu » Danh nhân họ Phùng VN

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: Một nhân cách lớn

Thứ ba - 28/06/2011 10:26
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: Một nhân cách lớn

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan: Một nhân cách lớn

 

(HNM) - Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613), tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, người làng Phùng Xá (tục gọi làng Bùng), huyện Thạch Thất, Hà Nội. Thân phụ ông làm Tri huyện Đông Lan - huyện Đoan Hùng, Phú Thọ ngày nay.
 
Mộ phần của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.

Do được cha rèn cặp nên ngay từ nhỏ, Phùng Khắc Khoan đã nổi tiếng văn chương. Sau lại tìm đến huyện Vĩnh Lại - nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, được thầy truyền dạy cả bí quyết trong sách Thái Ất thần kinh nên Phùng Khắc Khoan tinh thông cả thuật số. Những năm trẻ tuổi, ông sống trên đất nhà Mạc nhưng không chịu ra thi cử. Đầu đời Lê Trung Tông, ông theo Lê Bá Ly vào Thanh Hóa quy thuận nhà Lê. Những ngày đầu ở đây, nghe tin Hoằng Hóa là đất văn học, ông bèn tìm đến cư ngụ, dạy trẻ con nhà quê. Sau đó, ông đến huyện Vĩnh Phúc rồi Yên Định và vẫn sống bằng nghề dạy trẻ. Bấy giờ, xứ Thanh Hoa tổ chức kỳ thi hương, ông tham dự và đỗ đầu. Thái sư Trịnh Kiểm biết ông là người có học thức, mưu lược mới cho tham dự việc triều chính, trao cho chức ký lục ở ngự dinh, coi quân bốn vệ. Trong đời Chính Trị (1558 - 1571), ông vâng mệnh đi các huyện, chiêu dụ dân lưu tán về quê cũ làm ăn. Khi về, được thăng Cấp sự trung Binh khoa, lại đổi sang Cấp sự trung bộ Lễ. Vì có việc trái ý vua, phải giáng chức ra thành Nam, huyện Tương Dương, Nghệ An. Phẫn uất vì lòng trung không được vua biết tới, ông làm bài ca bằng quốc âm Ngư phủ nhập đào nguyên, trong đó có câu: “Nhà cỏ ở thành Nam, đồ tư hóa trúc” để bày tỏ ý mình, ít lâu sau lại được triệu về.

Đời Lê Thế Tông, năm Quang Hưng thứ 3 (1580), triều Lê mở khoa thi hội, lúc đó ông đang giữ chức Cấp sự Lễ khoa cũng lều chõng đi thi, đỗ Hoàng giáp, bấy giờ đã 53 tuổi. Thi xong, ông được thăng Đô cấp sự.

Giữa tháng Tư năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông bước lên chính điện tại Kinh đô Thăng Long, sự nghiệp Trung Hưng của nhà Lê đã hoàn thành. Phùng Khắc Khoan được phong chức Kiệt tiết tuyên lực, công thần, năm 1595, được thăng Công bộ Tả thị lang.

Vua Lê về Kinh đô, cùng với việc khôi phục kinh tế, có chuyện lớn là lo việc đối ngoại với nhà Minh. Năm Đinh Dậu (1597), đương lúc làm Tả thị lang bộ Công, ông được cử làm Chánh sứ sang Minh. Bấy giờ, nhà Minh đã nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, không chịu nhận sứ thần của nhà Lê. Ông viết thư cho Súy ty nhà Minh (quan coi cửa ải) nói rõ nhà Mạc cướp ngôi, mà lại được giúp, đè nén nhà Lê, thế là về bè với gian tà, hại người ngay thẳng, lấy gì để tỏ đại nghĩa với thiên hạ. Người Minh khen là có nghĩa mới cho sứ thần qua cửa quan để đến Yên Kinh. Khi sứ bộ đến Yên Kinh, Lễ bộ đường trách về việc người vàng ta đem cống không theo mẫu cũ làm cúi đầu, nên lại ngăn không cho sứ vào chầu. Ông biện bạch rằng: “Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục lại, danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng cúi đầu thay mình, đã là may lắm. Còn như nhà Lê bao đời làm công thần, kiểu người vàng ngửa mặt, quy chế cũ còn đó. Nay lại bắt theo như lệ nhà Mạc, thì lấy gì khuyên việc chiêu an và trừng giới việc trách phạt được”. Việc đến tai vua Minh, cuối cùng lại theo thể thức cũ của nhà Lê. Khi ông ở Yên Kinh, gặp sinh nhật vua Minh Thần Tông, ông có làm tập thơ Vạn thọ thánh tiết gồm 30 bài dâng lên. Thần Tông xem và phê: “Hiền tài đất nào chẳng có. Trẫm xem thi tập, thấy Phùng Khắc Khoan là người trung hậu, thật đáng ngợi khen; mệnh lệnh in ngay để ban hành trong thiên hạ”. Dịp này, ông còn đối đáp với sứ thần Triều Tiên về chủ quyền đất nước, chế độ khoa cử và làm thơ xướng họa với Lý Toái Quang. Lý Toái Quang rất phục tài. Người Trung Quốc bấy giờ khen ông là sứ giỏi. Khi đi sứ trở về, Thành tổ Trịnh Tùng rất kính trọng chỉ gọi là Phùng tiên sinh mà không gọi tên. Người trong nước kính mến đều gọi ông là Trạng nguyên, còn trong dân gian chỉ nôm na gọi là Trạng Bùng. Lê Kính Tông lên ngôi, ông được phong Thượng thư bộ Công, năm thứ 3 (1602) lại thăng Thượng thư bộ Hộ, tước Mai quận công. Tháng Chín năm Quý Sửu (1613) ông mất, thọ 86 tuổi, truy tặng Thái phó.

Giờ đây, tại làng Bùng, người dân vẫn truyền kể những chuyện cảm động về ông Trạng. Dựa vào các tư liệu, người ta đoán định, khoảng năm 80 tuổi, Phùng Khắc Khoan mới về nghỉ ở Phùng Xá. Trong lần đi sứ, ông đã đưa giống ngô, giống đậu về trồng ở quê nhà. Trong thời gian ở Yên Kinh, ông còn học được nghề dệt lượt rồi về truyền dạy cho dân. Mấy năm ở quê, cùng với dân thôn vui cảnh đồng quê, ông dạy họ cải tiến cái cày, cái bừa tiện hơn cho việc canh tác. Ông đã hướng dẫn dân làng khai mương dẫn nước từ núi Thầy về các cánh đồng Đặng Xá, Hoàng Xá, Phùng Xá. Để dân dễ nhớ, ông còn làm một số bài thơ phổ biến trong dân. Các bài này ông viết về cây cỏ, côn trùng, thời tiết trong các tập Huấn đồng (Dạy trẻ) và Độc thi đa thức (Biết thêm khi đọc Kinh Thi). Ông viết bài Đào nguyên hành (tức Lâm tuyền vãn) bằng chữ Nôm, kể đến gần 170 loại rau, đậu, cây quả, gia súc, gia cầm, cùng là cách trồng, cách nuôi và ích lợi của chúng; lại soạn sách Nông sự tiện lãm (Tìm hiểu nông nghiệp một cách thuận tiện).

Phùng Khắc Khoan là nhà ngoại giao, nhà kinh tế kiệt xuất thời Lê Trung Hưng, đồng thời ông còn là nhà văn, nhà thơ. Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét: “Thơ ông thanh nhã dồi dào, có các thi tập truyền ở đời”. Ngoài các tập có tính tổng kết về nông nghiệp vừa nêu ở trên, theo Trần Văn Giáp, ông còn có các tập thơ: Sứ Hoa bút thủ trạch thi, Ngôn chí thi, Nghị Trai thi tập, Mai Lĩnh sứ Hoa tùng vịnh, Phùng Khắc Khoan thi tập, Lục nhâm quốc ngữ binh thư yếu lược, An Nam sứ thần vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập… Nhà nghiên cứu Trần Lê Sáng nhận xét: “Về số lượng, thơ Phùng Khắc Khoan chiếm giải nhất trong số các tác giả cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Thơ ông phản ánh thời thế, chí hướng, tâm trạng, thiên nhiên… đều có giá trị trong việc nghiên cứu xã hội đương thời. Thơ văn của ông còn góp phần giải quyết công việc ngoại giao mà ông đảm nhiệm. Trong bài tựa tập Huấn đồng thi tập, ông đã nói tới các vấn đề lý luận của thơ ca thú vị và thiết thực”. 

Phùng Khắc Khoan là một nhân cách lớn. Cả đời ông gắn bó trọn vẹn với nỗi vui buồn của nhân dân. Sử gia Phan Huy Chú xếp ông là một trong 39 người “Phò tá có công lao, tài đức thời Lê Trung Hưng” và viết: “Ông là người cương quyết, sáng suốt, có tài, cái gì cũng biết được chỗ cốt yếu”. Từ hơn 60 năm trước, tại trung tâm Hà Nội có phố Phùng Khắc Khoan, dài 170m nối phố Trần Xuân Soạn với phố Hòa Mã. Tại giữa làng Phùng Xá, có đền thờ Phùng Khắc Khoan dựng cuối đời Nguyễn. Đền ba gian. Tại gian chính giữa có treo bức hoành Trung Hưng công thần từ (Đền thờ vị công thần thời Trung Hưng). Đền có một số câu đối, hoành phi, nội dung ca ngợi Trạng Bùng: Bắc Nam huân liệt, Văn chương hoa quốc, Nam quốc tôn sư, Vọng long sơn Đẩu, Di tượng đức thanh cao. Trong đền còn mũ, áo và sắc phong thần của các đời vua. Đặc biệt, tại đền còn bức truyền thần Phùng Khắc Khoan do họa sĩ nhà Minh vẽ tặng khi ông đi sứ Yên Kinh.

Từ đền thượng bước xuống nhà hạ, một cái nhà rộng khoảng 100m2. Tại đầu tường còn gắn ba tấm bia, đó là những tấm bia Từ đường bi ký (Bia ghi về nhà thờ). Theo các chữ ghi trên bia thì lần trùng tu cuối cùng của nhà thờ là vào ngày 15 tháng Ba năm Mậu Thân (1908). Ngôi đền hạ này chính là Hoằng Đạo thư đường (nhà học Hoằng Đạo), được dựng lên từ ngày Phùng Khắc Khoan còn trẻ. Nhớ ơn ông, tại đền, vào ngày 24-9 âm lịch hằng năm, nhân dân địa phương vẫn tổ chức ngày giỗ ông Trạng. Lễ vật dâng lên là cháo đậu, cà muối - những món ăn bình dị, lúc sinh thời ông rất thích.

Tri huyện Nguyễn Đình Thành viết tặng đền năm Giáp Ngọ (1894):
Thái tể đền xưa suối cũ đây
Thơm thơm hương cỏ gió đưa bay
Trung Hưng dựng nghiệp trời Nam rạng
Vạn thọ thơ ngâm đất Bắc lay
Gửi hứng suối đèo đen đổi trắng
Hòa lòng trăng nước cảnh ai hay
Đến nay còn chốn Sài Sơn ấy
Hai chiếc cầu tiên ẩn gió mây.
 
Trần Văn Mỹ
 
 
 
Phùng Khắc Khoan (1528-1613): Sứ giả "toàn quân mệnh - tráng quốc uy"    
Written by PGS. Bùi Duy Tân   
Sunday, 01 November 2009 23:07
PHÙNG KHẮC KHOAN (1528-1613):

SỨ GIẢ "TOÀN QUÂN MỆNH - TRÁNG QUỐC UY"[1]

PGS. BÙI DUY TÂN

(Bộ môn Văn học trung đại  – Khoa Văn học)

 

 

 

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là “chân đệ nhất nhân”[2] thời Lê Trung Hưng, là danh nhân đất nước có “Cuộc đời ngoại hạng”[3] Huân công thắng Mạc phù Lê, từ chương bang giao hoa quốc “thấm đượm khí thiêng sông Lô non Tản”[4] của Trạng còn mãi với non sông đất nước Nam ta. Bài viết này chỉ đề cập tới công trạng và thơ văn bang giao, phương diện đặc trưng nhất trong sự nghiệp kinh bang tế thế của Phùng Khắc Khoan.

LƯỢC SỬ MỘT DANH NHÂN

Phùng Khắc Khoan quê làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây, nay thuộc Hà Tây. Khắc Khoan là tên huý, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, biệt hiệu là Mai Nham Tử. Khi trở thành vật tài ba đức độ ở đời, dân tôn xưng ông là Trạng Bùng (ông trạng làng Bùng), khi từ chương, sứ sự nổi danh lại được đời phong làLưỡng quốc Trạng nguyên, chứ thực ra ông không hề thi đỗ Trạng nguyên ở ta cũng như ở Tàu bao giờ cả.

Phùng Khắc Khoan nổi tiếng văn tài từ hồi trẻ, lớn lên với Vĩnh Lại, Hải Dương theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[5] nên kiêm thông cả thuật số nhưng kiểm trung với nhà Lê, không chịu ra thi và làm quan triều Mạc. Năm Quý Sửu (1553) lặn lội vào Thanh Hoá, tham gia công cuộc Trung hưng, Trịnh Kiểm biết ông là người mưu lược tài ba, học vấn uyên bác, bèn giữ lại trong quân lữ, hậu đãi phong cho chức tước. Năm Canh Thìn (1580), nhà Lê Trung hưng mở Hội thi[6] ở hành tại Vạn Lại, Thanh Hoá, lấy đỗ sau người, Phùng Khắc Khoan đỗ thứ hai, sau Nguyễn Văn Giai, được thăng chức Đô cấp sự trung. Năm Nhâm Thìn (1592), Lê Trung hưng thắng Mạc trở về kinh đô, Phùng Khắc Khoan được vinh phong: Trung nghĩa nội luỹ, Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Tán trị Thừa chánh sứ Thanh Hoá. Trong dịp này, nhiều đại thần cùng triều làm thơ ca ngợi công huân, đức độ của ông. Năm Đinh Dậu (1597), Phùng Khắc Khoan là chánh sứ sang sứ triều Minh. Cuối năm sau, sứ sự thành công trở về nước, ông được thăng chức Lại bộ Tả thị lang, tước Mai Lĩnh hầu. Trong đời Lê Thế Tông (1600 - 1619), ông lĩnh chức Công bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám Tế tửu. Ông mất năm 1613, hưởng thọ 86 tuổi, được truy tặng Thái phó, ban Thụy là Nghị Trai, được dân thờ làm phúc thần. Đền thờ Trạng ở thôn Bùng, một di tích lịch sử văn hoá được nhiều lần tôn tạo, vẫn đêm ngày đen hương toả rạng.

DIỄN BIẾN BANG GIAO SỨ  SỰ[7]

Trong sự nghiệp an nguy trị loạn vì nước vì dân của mình, bang giao là lãnh vực mà Phùng Khắc Khoan có cống hiến to lớn và độc đáo.

Bấy giờ trên đất nước ta, cuộc nội chiến coi như kết thúc, sau khi Trịnh Tùng chiếm được kinh đô, đuổi họ Mạc lên Cao Bằng. Thời kỳ thái bình dựng nước bắt đầu, trong đó bang giao với đế chế Minh có tầm quan trọng sống còn đối với an ninh xã hội, nay bước sang giai đoạn mới, đầy khó khăn, phức tạp. Nhà Mạc, sau khi thất bại vẫn tố cáo với nhà Minh là họ Trịnh giả danh họ Lê để diệt Mạc. Vua Minh nhiều lần sai sứ đem điệp văn đòi vua Lê phải lên Trấn Nam giao để khám xét cho rõ thực hư.

Đầu năm 1596, Thượng Thư Đỗ Uông và Đô Ngự sử Nguyễn Văn Giai đến Trấn Nam giao cùng Minh quan Trần Đôn Lâm trao đổi giấy tờ. Sau đó, Phùng Khắc Khoan cùng hai hoàng huynh Lê Ngạnh, Lê Hựu mang theo hai tờ in mẫu ấn An Nam đô thống sứ ty và An Nam quốc vương, cùng 100 cân vàng và 1000 lạng bạc, với nhiều kỳ lão đến hội khám ở Trấn Nam giao. Song Trần Đôn Lậm một mực yêu sách hội khám phải có mặt vua Lê. Mười ngày sau, Lê Thế Tông được các đại thần Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Đỗ hộ giá, đành đến nơi hội khám. Người Minh lại trở mặt, thoái thác, việc hội khám không thành.

Cuối năm 1596, Đỗ Uông và Trịnh Vĩnh Lộc, đầu năm 1597, Đỗ Uông và Nguyễn Văn Giai đều có mặt ở biên giới, tìm cách thoả mãn yêu sách của nhà Minh, nhưng công việc vẫn trì trệ. Mãi đến tháng 3 năm 1597, Lê Thế Tông phải điều binh khiển tướng lên tận biên ải, rồi qua Bằng Tường đất Quảng Tây, cùng các thần tử nhà Minh hội khám, từ đó triều Lê Trung hưng mới lại bước đầu khôi phục quan hệ bang giao với nhà Minh.

Hội khám tất nhiên chỉ giải quyết được một số công việc có tính chất cấp thiết và cập nhật; như công nhận vua Lê, ở cấp thấp, như khôi phục lệ cống nạp…; quan hệ Nam Bắc đang còn nhiều công việc phải làm. Vì thế, tháng 4 năm Đinh Dậu (1597) triều đình cử Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ. Nguyễn Nhân Thiệm làm phó sứ sang nước Minh cống nạp và xin tước cho vua Lê.

Sứ bộ tới biên giới, nhà Minh nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, không cho đoàn nhập cảnh. Phùng Khắc Khoan đưa thư cho Súy Ty nhà Minh kể rõ chuyện họ Mạc cướp ngôi nhà Lê. Bây giờ, con cháu nhà Lê lấy lại nước, đến cửa quan đợi mệnh, mà thiên triều lại giúp nhà Mạc, đè nén nhà Lê, thế là về bè với kẻ giản tà, hại người ngay thẳng, lấy gì để tỏ đại nghĩa với thiên hạ, giúp danh giáo cho muôn đời sau. Người Minh khen là có nghĩa, mới cho sứ thần qua cửa quan. Từ Trấn Nam giao đi Yên Kinh, tức Bắc Kinh ngày nay, đường dài muôn dặm, khi đi bộ, lúc ngồi thuyền, đoàn sứ bộ 23 người[8]. Do một ông già 70 tuổi dẫn đầu, xông pha sương tuyết, giãi gió dầm mưa từ tháng 4 đầu hè đến tháng 10 đầu đông Đinh Dậu (1597) mới tới Yên Kinh. Trước khi vào chầu, vật phẩm cống nạp lại bị Lễ bộ đường nhà Minh trách cứ: Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục lại danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng hình cúi đầu thay mình, đã là may lắm. Còn như nhà Lê bao đời làm công thần, kiểu người vàng ngửa mặt, quy chế cũ còn đó. Nay lại bắt theo như lệ nhà Mạc, thì lấy gì để khuyên việc chiêu an và trừng giới kẻ phạn loạn. Việc đến tai vua Minh, cuối cùng cho theo thể thức cũ của nhà Lê[9], bấy giờ sứ mới được vào chầu. Vua Minh xem tờ biểu của nhà Lê, bèn xuống chiếu phong vua ta làm An Nam Đô thống sứ ty Đô thống sứ, ban ấn bạc và quyền quản hạt nhân dân nước Nam. Phùng Khắc Khoan dâng biểu biện bác rằng: chủ của thần là họ Lê, dòng dõi An Nam quốc vương, sao lại chịu phong tước Đô thống sứ như họ Mạc tội đồ kia được? Vua Minh cười và nói rằng: “Chủ của ngươi tuy không ví như họ Mạc, nhưng vì mới lấy lại được nước, sợ lòng người chưa yên, hãy cứ nhận đi, sau sẽ gia phong vương tước cũng chưa muộn gì. Người nên kính theo, chớ cói từ chối”. Khắc Khoan đành bái nhận ra về.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ khi sứ bộ khởi hành đến khi sứ bộ về nước trước sau cộng 1 năm lẻ 4 tháng. Trong buổi triều yết tuyên đọc sắc phong của thiên triều do sứ bộ Phùng Khắc Khoan đem về, thấy ấn ban nói là bằng bạc mà lại là đồng. Trịnh Tùng bèn cùng văn võ đại thần hồi thư trách nước Minh, do uỷ quan Vương Kiến Lập mang về.

Như vậy, thành quả lớn về bang giao của Phùng Khắc Khoan là đã khai thông quan hệ giữa Triều Lê với đế chế Minh vốn đang bế tắc, đã tranh biện với lý lẽ quang minh chính đại để thiên triều chính thức công nhận chính quyền nhà Lê của nước Nam.

VĂN CHƯƠNG BANG GIAO VỆ QUỐC

Thời gian ở Yên Kinh, gặp Lễ chúc thọ vua Minh, Phùng Khắc Khoan đã dâng 35 bài thơ chúc thọ, với một cái tên khá dài: An Nam kỳ mục Phùng Khắc Khoan vạn bái vạn chúc hạ thiên triều hoàng đế vạn thọ tiết thị(Thơ của kỳ mục nước An Nam là Phùng Khắc Khoan muôn lạy muôn chúc mừng tiết vạn thọ của thiên triều hoàng đế). Thượng thư Trương Vị triều Minh khi dâng tập thơ này lên vua Minh thì gọi là Vạn thọ thi tập (Tập thư Vạn thọ). Lý Túy Quang, sứ thần Triều Tiên, khi viết tựa cho tập thơ, đề rõ: An Nam sứ thần vạn tho thánh tiết khánh hạ thi tập tự (Bài Tựa tập thơ mừng vạn thọ thánh tiết của sứ thần An Nam). Vua Minh xem thơ liền chính tay phê rằng: “Hiền tài hà đại vô chi, Trẫm lãm thi tập cụ kiến Phùng Khắc Khoan trung khổn, thù khả thâm giao bao my”. Tức mệnh hạ khắc bản ban hành thiên hạ (Người hiền tài đời nào mà không có. Trẫm xem tập thơ này, đủ thấy rõ tấm lòng trung chính thành thực của Phùng Khắc Khoan, thật đáng khên ngợi lắm. Rồi lệnh ngay cho khắc thành bản in, ban hành trong thiên hạ).

Đây quả là một việc hy hữu trong lịch sử thơ văn bang giao, Phùng Khắc Khoan là thi nhân sứ giả đầu tiên của nước ta đột phá vào sứ sở của vương quốc thi ca Trung Hoa thời Minh, bằng một thi phẩm đích thực. Nhiều thi hữu của Phùng Khắc Khoan người Minh, người Triều Tiên đều khen lao thán phục. Làm đến 35 bài thơ, cùng một chủ đề chúc hạ nhà vua bát tuần thượng thọ, để thiên tử và sĩ đại phu đọc mà không nhàm chán, mà phải ngợi khen, lại sai khắc in để quảng bá, ai dám bảo đó là thơ ca thù tục, phấn sáp của từ chương giao tế. Tuy cái vốn văn hoá thi pháp đồng văn cũng cho nhà thơ những thuận lợi, song phải có tinh thần vô tốn, bất dị sứ giả - Việt nho, cùng với tài thơ thực sự mới tạo tác được một hiện tượng văn chương bang giao độc đáo, một lợi khí giao hảo đắc dụng như thế. Một số học giả thời nay cho rằng Phùng Khắc Khoan dùng sách lược ngoại giao văn chương, là đã phần nào thấy rõ thực chất và ý nghĩa thực tiễn, cập nhật của thi phẩm.

Thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan có đến 140 bài, gộp lại ở Mai Lĩnh sứ hoa thi tập. Ngoài những bài thơ chúc thọ nói trên, còn cụm Bắc sứ đăng trình tự thuật thi và Dữ Triều Tiên sứ thần xướng hoạ thị. ở đâu Phùng Khắc Khoan cũng thể hiện bản sắc dân tộc, bản sắc thời đại, bản sắc đại gia. Lý Túy Quang, quốc sư Triều Tiên, người được Phùng Khắc Khoan mời đọc và viết Tựa cho tập Vạn Thọ thi tập có nhận xét: “Nay sứ thần là ông Phùng, đầu tóc bạc phơ, thân hình gầy cứng, tuổi bảy chục mà nét mặt tơ măng, đường đi tiếng nói ba lần phiên dịch mà chân chẳng thành chai kén… Thơ ông làm chúc mừng vạn thọ thánh tiết có bao nhiêu bài khen ngợi, phô bày, lời lẽ ý tứ hồn hậu đủ để nhà Ngọc phun châu và tiếng kêu như tiếng ngọc, thế chả phải là dị nhân ư”. Đỗ Uông, một đồng liêu, viết cho Mai Lĩnh sứ hoa thi tập những lời Tựa, thật trên cả sự tuyệt vời: “Ông vốn là người kiên trinh chất phác, nổi tiếng hay tiếng tốt đã lâu, cho nên ông đi sứ nói những lời trung hậu, ôn hoà, làm toàn vẹn được mệnh vua, làm mạnh mẽ được uy nước. Làm nhân hậu dân sinh, trường thọ quốc mạch…”, Tiên hiền có nói: thơ có luyện hàng trăm lần mới thuần thục, người có trải nhiều gian nan mới hoá lão thành. Ông thật được như câu nói ấy. Cuối cùng là nhận xét của Lê Quý Đôn, nhà bác học, một sứ thần nổi tiếng thời sau: “Phùng Khắc Khoan phụng mệnh đi sứ, tuổi đã ngoài 70, không những biện bạch quang minh chính đại, đạo đạt được mệnh lệnh của vua, làm mạnh mẽ được thể chế trong nước, đến như 30 vần thơ dâng mừng Thánh tiết và hơn 10 vần thơ đáp lại chánh phó sứ nước Triều Tiên, tài tứ chứa chan, cách điệu tươi đẹp, y như lúc còn trẻ tuổi. Như thế chả phải là được linh khí núi sông giúp đỡ đây ư?”.

Người xưa xếp thơ đi sứ thời Lê Trung hưng là loại thơ thượng thặng, trong đó 5 tác giả hàng đầu là Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Huy Oánh, Hố Sĩ Đống, Lê quý Đôn, Ngô Thì Nhậm khi viết Tựa choTinh sà kỷ hanh của Phan Huy ích có cái nhìn tinh tế: “Từ Lê Trung hưng về sau, các nhà thơ có danh tiếng thường thấy trong các tập thơ đi sứ, hoặc thăm chốn thanh u, viếng nơi cổ tích, gặp cảnh mà sinh tình. Hoặc xa cố quốc, nhớ quê nhà, nhân việc mà tỏ ý. Mỡ rớt hương thừa, có thể nhuần thấm cho đời sau”. Thơ văn và hành vi, quan hệ của sứ bộ, của chánh sứ Phùng Khắc Khoan trên đất Trung Hoa, không những có giá trị “toàn quân mệnh tráng quốc uy”, “nhân dân sinh, thọ quốc mạnh” mà còn là để phát huy tinh thần hữu hảo với người Minh và với sứ thần của các nước.

KHAI SÁNG QUAN HỆ VIỆT TRIỀU

Dựa vào chứng tích lịch sử, có thể coi Phùng Khắc Khoan là người khơi mở quan hệ hữu hảo Việt Triều, nhân dịp dự lễ chúc thọ thiên tử nhà Minh ở Yên Kinh.

Trước đây, cố sứ giả Trần Văn Giáp cho rằng thời Trần Anh Tông thế kỷ XIII, đã có giao tiếp giữa Mạc Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly trên đất Trung Hoa. Từ đó, Mạc Đĩnh Chi trở thành nhân vật huyền thoại trong một số truyện dân gian ở Triều Tiên, thực hư thế nào hiện chưa rõ.

Gần đây, câu chuyện người ông Lý Dương Côn thế kỷ XII và sau đó người cháu Lý Long Tường thế kỷ XIII, không biết bằng cách nào vượt biển tới Cao Lý, đây là chuyện tha hương lập nghiệp, tị nạn ở nước người, chưa có tính chất một quan hệ song phương.

Trước chuyến công du của sứ giả họ Phùng, chưa thấy có một mối quan hệ giao tiếp nào giữa Đại Việt và Cao Ly. Quan hệ giao lưu có tính chất song phương phải đến thế kỷ XVI mới thực sự được khai phá, bởi Lý Túy Quang của Triều Tiên và Phùng Khắc Khoan của Đại Việt. Số là lễ “Khánh tiết vạn thọ” năm ấy, sứ thần các nước chu hầu đến Yên Kinh quá nhiều. Người Minh buộc phải để sứ bộ nước ta và sứ bộ Triều Tiên được ở một nới. Nhân đó, bút đàm xướng hoạ, tặng đáp thơ văn, hoà hiếu hữu hảo theo tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”.

Lý Túy Quang hiệu là Chi Phong, chánh sứ Triều Tiên biết rộng, đỗ cao, có văn tài học hạnh, từng khởi xướng phong trào thực học, năm gặp sứ bộ ta[10], tuổi đời mới 35, bằng nửa tuổi Phùng Khắc Khoan, thế mà đã đi sứ Minh lần thứ ba. Lần đi sứ năm Canh Dần, theo bài Chí của Lý Túy Quang thì người Minh chó mỗi sứ bộ ở một nhà riêng, cấm không được đi lại thăm nhau, chỉ gặp mặt nhau khi triều hội, cho nên lần đi sứ này ông không được gặp sứ thần Việt Nam, không có thơ văn xướng hoạ, thậm chí ông không ghi tên cả vị sứ thần của Triều Mạc nước ta. Còn lần đi sứ năm Đinh Dậu này, theo ghi chép của Lý Túy Quang: “Tới Yên Kinh đúng vào ngày đông chí, có tiệc mừng, người nước ngoài đến nhiều, nhà cửa chật chội nên khác với lệ xưa, nay được cùng ở với sự bộ An Nam, thời gian đến hơn 50 ngày, nên được đi lại quen thuộc, hỏi han nhau tường tận lắm”. Cuộc tao ngộ, theo Lý Túy Quang “hữu số ư kỳ gian” ấy đã để lại một chùm thơ văn bang giao đặc sắc, quý giá. Số thơ văn hiện còn lại trong Mai Lĩnh sứ hoa thi tập của Phùng Khắc Khoan không đầy đủ bằng trong An Nam quốc sứ thần vấn đáp lục[11] của Lý Túy Quang. Đọc tập thơ văn còn lại khá đầy đủ này, thấy rõ: Cuộc gặp gỡ giữa hai sứ giả - nhà thơ thực sự là cột mốc quan trọng, đánh dấu sự khai sáng quan hệ bang giao Triều Việt. Lời thơ vừa phản ánh mục đích, phương thức giao tiếp giữa ta và Triều Tiên theo tinh thần văn hoá đồng văn “tứ hải giai huynh đệ”, vừa thể hiện thực chất của sự giao tiếp là hữu hảo chân tình, là tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau về đất nước, con người, sinh hoạt văn hoá giữa các dân tộc đồng văn dị quốc. Đặc biệt qua một số bài văn Tựa, Chí, Hậu, Vấn đáp… của Lý Túy Quang, ta thấy khi thì đôi nét sống động về cuộc sống thấm đậm bản sắc phong vị An Nam: “Chuyến đi này có 23 người đều vấn búi tóc. Người cao quý thì nhuộm răng, người thấp hèn thì mặc áo ngắn, đi chân không… Nơi nằm thì phải ở trên giường, không có hầm sười. áo mặc phần nhiều là the lụa. Tính nết hiền lành, giỏi chữ, thích tập múa kiếm. Tiếng nói giống như Oa (Nhật Bản) mà nhiều thanh mỉm miệng. Chữ riêng của nước ấy thì viết lạ lám…” (Bài Hậu); khi thì phác hoạ chân thực vóc dáng, phong độ chân dung một ông già Việt sứ: “đầu tóc bạc phơ, thân hình gầy guộc, tuổi bảy mươi mà nét mặt con như trẻ, đườg đi xa mà chân cứng đá mềm… Ngài là bậc già cả thời cổ, thơ ngài làm ra còn tốt lành hơn dâng bạch trĩ xưa nhiều”[12] (Bài Tựa), hoặc “sứ thần họ Phùng tuổi ngoài bảy mươi, hình dáng lạ lùng, răng nhuộm đen, tóc vấn thành búi, áo dài, ống tay rộng, khăn đội trên đầu thì lấy cả khổ vải đen trùm lên, như dáng khăn ông sư, để một nửa rủ về đằng sau, xuống quá vai. Ông Phùng là người tuy già, sức còn trẻ, thường đọc sách, viết sách luôn” (Bài Hậu). Cuộc hội ngộ giữa hai chánh sứ Phùng Khắc Khoan - Lý Túy Quang là cột mốc ghi nhận sự mở đầu quan hệ hữu hảo Triều Việt, là dấu son tô thắm cuộc tao ngộ sứ giả - nhà thơ, tạo ấn tượng sâu đậm với thi nhân sứ giả thời sau:

“Tặng đáp nghĩ truy Phùng, Lý cựu,

Văn tình hà thí ẩm thuần cam”

(Tặng đáp muốn học theo Phùng, lý khi xưa.

Giao tình như chén rượu đưa ngọt ngào.)

-Phan Huy Ích-

SỨ GIẢ - THẦN NÔNG

Theo truyền thuyết, khi đi sứ về, cụ Phùng đã mang theo một số loại cây trồng, nghề dệt lượt và cách làm cày bừa. Ngô thì cụ gắt ở búi tóc, dây khoai lang thì cụ sai tuỳ tòng bện giả làm quai hòm, sắn thị cụ làm gậy chống, đậu đen thì cụ đút ở hậu môn, vừng thì ông đút ở đầu dương vật. Cụ quan sát, ghi nhớ cách dệt về giúp dân dệt lượt Bùng, cách làm nông cụ về giúp cả làng Nủa Vĩnh Lộc làm cày bừa. Đã nhiều lần đề cập đến chuyện này khi viết về Phùng Khắc Khoan, tôi cho rằng cụ Phùng với tư duy: “dĩ nông vi bản”, có thể đã đem về một số cách làm cày bừa… làm khung cửi dệt và một số nông sản mà ta chưa có, hoặc đã có nhưng khác loại. Lâu về sau, lượt Bùng, cày bừa Vĩnh Lộc đâu đâu cũng thích dùng. Theo khoán ước đã thành văn thì kỵ nhật ngày 24 tháng 9 hàng năm ở đền thờ Trạng, hai làng Bùng và Vĩnh Lộc phải có liễn cháo đậu, đĩa cà muối, bát canh, đĩa dưa đạm bạc đem cúng theo lời dặn lại của cụ, mà cũng là tưởng nhớ công ơn người đã mang các thứ ấy khi đi sứ về.

Huyền thoại trên đây rất phù hợp với tâm tính Phùng Khắc Khoan. Thời còn tại chức, ông viết Lâm tuyền vănbằng thơ lục bát Nôm, nhắc đến đủ cá loại cây hoa trái quả ở Thành Nam, Con Cuông xứ Nghệ. Khi đã về hưu, ông lại quan tâm khơi máng đào mương, tưới tiêu chống hạn cho ruộng lúa của cả một vùng quê. Với những tư liệu đậm tính truyền thuyết, dân dã này, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Phùng Khắc Khoan đúng là một vị Nông Thần. Dân gian làng Bùng - Phùng đã biến ông Tiến sĩ thành ông Trạng, rồi lại biến ông thành Thần Nông… Cuộc đời Trạng Bùng đã được huyền thoại hoá, huyền tích hoá quá nhiều. Đó là vì ông là một nhân tài ngoại hạng”[13]

HUÂN CÔNG BANG GIAO

(Thay lời kết luận)

Sự  nghiệp bang giao của Phùng Khắc Khoan có mấy thành tựu nổi bật:

1. Sứ giả già tuổi nhất, thành công đi sứ vào loại cao nhất.

Trong số hàng trăm sứ giả nước ta đi sứ Bắc thời trung đại, có khoảng 2/3 sứ giả có thơ văn đi sứ để lại. Sách tuyển thơ đi sứ tuyển thơ của khoảng trên 50 tác giả. Trong số tác giả này, không ai đi sứ có tuổi đời cao đến 70. Mạc Đĩn Chi đi sứ năm 24 tuổi, Nguyễn Trung Ngạn: 25 tuổi, Nguyễn Quý Đức: 45 tuổi, Nguyễn Tông Quai: 52 tuổi và 55 tuổi. Nguyễn Huy Oánh: 44 tuổi, Hố Sĩ Đống: gần 40 tuổi, Nguyễn Văn Siêu: 54 tuổi… Trong thời đại tuổi đời “thất thập cổ lai hy” thì cụ Phùng đi sứ năm 70 tuổi phải coi là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu.

Hơn nữa, với tuổi đời cao như thế, lại hoàn thành được sứ mệnh lịch sử với thành tựu cao nhất: Toàn quân mệnh, tráng quốc uy. Để rồi từ Hoàng đế Minh Thần Tông Vạn Lịch đến vua Nam Nguyễn Dực Tông Tự Đức; từ  Điện đại học sĩ Thiếu bảo Trương Vị nhà Minh đến Chi Phong đạo nhân Lý Túy Quang - sứ thần Triều Tiên; từ đồng liêu, đồng khoa Thái bảo Lể Quận công Nguyễn Văn Giai, Đại học sĩ Thiếu bảo Thông Quận công Đỗ Uông dến các đại bác học Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, đại ký giả Phạm Đình Hổ, Vũ Phương Đề; từ các kỳ lão, nhân sĩ kẻ Bùng đến những Thần Siêu, Thánh Quát… tất cả đều dùng không biết bao mỹ từ điển nhã, trang trọng, văn hoa để nhận xét, bình luận, đánh giá mà thực chất là đề cao Phùng Khắc Khoan - sứ giả - nhà thơ. Coi ông “Vốn có tài hào kiệt, đĩnh đạc vào bậc tướng lừng đất Bắc, chính sự vững trời Nam (Cao Bá Quát)… Thành công của chuyến đi sứ đã khiến quốc dân suy tôn là bạc sứ giỏi, “công nhận việc đi sứ là hoành tráng và biết nhất định thành công”. Thành tổ Bình An vương Trịnh Tùng rất kính trọng cụ Phùng, thường gọi là Phùng Tiên sinh chứ không gọi tên thực, khi đón cụ trở về, tâu ngay với vua thăng thưởng chức tước cao cho cụ. Huân nghiệp bang giao của Phùng Khắc Khoan ở tầm cỡ hiển vinh bậc nhất trong lịch sử bang giao nước ta thời trung đại.

2. Để lại tập thơ sứ trình tài năng và độc đáo.

Sứ thần ta thời phong kiến thường là những nhà thơ nổi tiếng, có văn tài học hạnh, thông hiểu sử sách, thấu suốt cổ kim, ứng đối hoạt bát mẫn tiệp, để bảo vệ lợi ích, uy tín của đất nước, để phát huy nền văn hiến dân tộc, để làm hay làm đẹp cho Tổ quốc ở nước ngoài. Phùng Khắc Khoan là một sứ thần có đủ tố chất sứ giả ấy. Tập thơMai Lĩnh sứ hoa thi của ông được Đỗ Uông viết bài Tựa vào loại hay nhất trong số những bài Tựa thơ đi sứ. Nó có khoảng 140 bài của ba chùm thơ như đã nói trên. Nó là tập thơ đi sứ tài năng và độc đáo. Vì nó là tư tưởng, hoài bão, tâm huyết của một sứ thần yêu nước, có dũng khí, có trách nhiệm với vua, với nước, với dân. Vì nó là chân tình, chính trực, lịch lãm trong lối thơ bang giao; vì nó có giá trị thu phục nhân tâm, tranh thủ được cảm tình ở cả đối tượng là khó khăn nhất. Vì nó thể hiện một tài thơ trác việt: “có thể lùa sóng bể vào nghiên mực, kéo văn tinh đến ngòi bút, thu vẻ xuân của trời đất, nhặt thắng cảnh của non sông, dồn cả vào cái roi ngâm vịnh… Nếu không phải là người có công phu dày dặn, có khí tượng cao cả thì sao có thể được như thế? (Đỗ Uông). Và sau hết, vì nó là tập thơ chân tình, giao hiếu với những người phương xa ngẫu nhĩ gặp nhau. Trong dòng thơ đi sứ Mai Lĩnh sứ hoạ xứng đáng là tập thơ có giá trị cao, nó hay và cũng lạ.

 

3. Người khơi mở quan hệ hữu hảo Việt Triều.

Như đã nói trên, trước khi Phùg Lý gặp nhau, chưa có tư liệu gì về quan hệ Triều Việt. Chỉ đến khi có cuộc tao ngộ giả - nhà thơ nhân dịp mừng thọ vua Minh, quan hệ ấy mới bắt đầu.

Cuộc tao ngộ Như có số trời cho ấy để lại một hành vi bang giao hảo hạng, một chùm thơ văn giao tình thân thiết giữa Chánh sứ Phùng Khắc Khoan và Chánh phó sứ Lý Túy Quang - Kim Dương dật sĩ. Sự kiện và chùm thơ văn ấy là mốc son đánh giấu sự mở đầu quan hệ bang giao Triều Việt, cũng là ghi nhận sự trao gửi thân tình của hai đại diện văn hoá giữa hai dân tộc đồng văn dị quốc, phía Đông và phía Nam đại lục Trung Hoa.

4. Sứ thần có nhiều huyền thoại bậc nhất:

Với “một nhân tài ngoại hàng” (Trần Quốc Vượng) như Phùng Khắc Khoan, huyền thoại tất nhiên là rất nhiều. Trong đó có những huyền thoại đã thấy kể là của các sứ thần khác, như Rêu xanh máu đỏ, Lưỡng quốc Trạng Nguyên, Ném vỡ chim sẻ giả… Đây là hiện tượng bình thường vì huyền thoại vốn truyền miệng, tập thể nên văn bản rất cơ động, linh hoạt, nhiều dị bản. Điểm qua về tư liệu, thấy có hàng chục giai thoại đi sứ của Phùng Khắc Khoan chẳng hạn: Dễ nhất - khó nhất, Ngon nhất - Quý nhất, Phân biệt ngựa mẹ ngựa con, Ngô xứ Đoài, Lượt Bùng, Cày bừa Vĩnh Lộc… đã gọi là huyền thoại, tức những huyện hay mà huyền hoặc, không thực thì không thể và không cần bảo đảm tính chính xác về lịch sử, về sự kiện, lại phải mặc nhận sự sai dị về tư liệu văn bản, về tình tiết, về thời gian xuất hiện[14]. Cái hay của huyền thoại là giúp ta hiểu thêm về con người và uy vọng lớn của sứ giả Phùng Khắc Khoan, từ một góc nhìn khoáng đạt, thế tục hơn, cho nên ý vị, hấp dẫn hơn. Trong số huyền thoại đi sứ của Phùng Khắc Khoan, có một số đúng là viết về ông, song cũng có một số, nhất là những huyền thoại hay, thì cũng thấy ở huyền thoại đi sứ của Mạc Đĩnh Chi, của Nguyễn Trực, của Nguyễn Tuấn, của Giang Văn Minh… Phùng Khắc Khoan là sứ giả có nhiều huyền thoại, trong đó có một số huyền thoại hay và rất đặc trưng.

Huân nghiệp bang giao hữu nghị hiển hách như thế, Phùng Khắc Khoan xứng đáng là sứ thần hiển vinh bậc nhất trong lịch sử bang giao của nước ta thời trung đại.4

Hà Nội, 9-2006

B.D.T.

[1] Nghĩa là: làm toàn vẹn được mệnh vua - làm mạnh mẽ được uy nước. (Trích tựa Thơ đi sứ Phùng Khắc Khoan của Đỗ Uông). --- Bài viết dẫn nhiều tư liệu về Phùng Khắc Khoan, tất cả đều trích xuất từ công trình Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác giả, tác phẩm, GS. Bùi Huy Tân (chủ biên), Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 2000.

[2] Trích câu thơ của Hoàng Trung: “Thật là bậc nhất” - bạn thơ, người cùng thời, cùng làm quan với Phùng Khắc Khoan.

[3] Trích lời bàn của GS Trần Quốc Vượng.

[4] Trích câu thơ: “Lô Tản sơn hà vãng cục thâm” của Thám hoa Hoàng Xuân Hiệp, đề ở mộ Phùng Khắc Khoan.

[5] Cho rằng ông với Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng chung “một bà mẹ dị kỳ” chỉ là ngoa truyền. Hiện chưa phát hiện một tư liệu đích thực nào về chuyện này. Thậm chí, việc Phùng Khắc Khoan là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không thấy một dấu ấn nào khi đọc hàng ngàn bài thơ. Bài băn của Trạng Trình và hơn năm năm bài thơ, bài văn của Trạng Bùng.

[6] Năm ấy không có Đình thí nên không có tam khôi đệ nhất giáp (Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa). Sáu người đỗ đều là hoàng giáp, tức đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân.

[7] Hầu hết tư liệu viết ở phần này dựa vào bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.

[8] Theo bài Hậu của Lý Túy Quang, sứ thần Triều Tiên.

[9] Phùng Khắc Khoan chính là sứ thần giời biện bác, buộc nhà Minh phải Bỏ lệ cống người vàng cúi mặt.

[10] Khoảng cuối năm Đinh Dậu (1597), đầu năm Mậu Tuất (1598) - khi sứ bộ Đại Việt đến và ở lại Yên Kinh. (Sau đây gọi chung là năm Đinh Dậu - 1597)

[11] Tôi có toàn bộ tập tư liệu này, do TS Việt Nam học Bùi Lương Tú (Yong Bac) gửi từ Hàn Quốc sang.

[12] Lý Túy Quang có viết Tựa cho chùm thơ Vạn Thọ thánh tiết của Phùng Khắc Khoan.

[13] Làng Bùng - Trạng Bùng, Hà Tây Văn hoá thể thao, số tháng 2 - 1993.

[14] Chẳng hạn Nam Triều công nghiệp diễn chí viết về nội chiến Trịnh - Nguyễn từ 1627 trở đi, lại viết huyền thoại Phùng Khắc Khoan đi sứ, Tài chiết tự… khi ông đã qua đời 1613.

 

In trong: Những vấn đề mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn học,

(tập sách kỉ niệm 50 năm thành lập Khoa Văn học)

NXB ĐHQGHN, HN, 2006, tr. 241-252.

Theo: http://khoavanhoc-ussh.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=530:pgs-bui-duy-tan&catid=42:cong-trinh-khoa-hc&Itemid=116


 

Nguồn tin: http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/1000_nam_thang_long/323216/trang-bung-phung-khac-khoan-mot-nhan-cach-lon.htm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 18


Hôm nayHôm nay : 958

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 40958

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6487536