Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu » Danh nhân họ Phùng VN

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Phùng Khắc Khoan

Thứ tư - 09/11/2011 10:42
Phùng Khắc Khoan

Phùng Khắc Khoan

 

 

 

 

 

Phố Phùng Khắc Khoan

Chạy từ phố Trần Xuân Soạn đến phó Hòa Mã, dài gần 170m, thuộc phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng. Đường phố Hà Nội

Ý nghĩa tên phố
Nhân vật Phùng Khắc Khoan Nhà Lê và Tây Sơn Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) là “chân đệ nhất nhân” (lời của Hoàng Trung: “Thật là bậc nhất” – bạn thơ, cùng làm quan với Phùng Khắc Khoan). Nhà hoạt động chính trị, kinh tế, nhà thơ.

Ông tên tự Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, người lạng Phùng Xá (tên Nôm là làng Bùng), huyện Thạch Thất (nay thuộc Hà Nội). Thuở nhỏ ông xuông Hải Dương theo học Trạng nguyễn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông học giỏi, nhưng không chịu đi thi và làm quan cho nhà Mạc. Năm 1550, ông vào Thanh Hoá theo nhà Lê. Năm 1590, nhà Lê mở khoa thi ở Thanh Hoá, ông đỗ Hoàng giáp. Năm 1592, nhà Lê trở về Thăng Long, ông được phong công thần Đặc tiến Kim từ Vinh lộc đại phu. Năm 1597, ông làm Chánh sứ sáng Trung Quốc cầu phong cho vua Lê, sau đó giữ các chức Thượng thư Bộ Hộ, Bộ Công, tước Mai quận công, rồi nghỉ hưu. Ông là người nhiệt tình xây dựng quê hương, quan tâm đế đời sông dân làng. Ông tổ chức đào mương tiên nước về tưới cho cách đồng Phùng Xá, Hoàng Xá. Tương truyền, ông là người truyền nghề dệt lượt cho dân Phùng Xá. Theo lời kể của con cháu họ Phùng thì nhân một chuyến đi sứ, ông tìm hiểu chi tiết cách dệt lượt. Khi về hưu ông chuyền kĩ nghề này cho dân làng. Lượt làng Bùng nổi tiếng vừa đẹp, vừa bền. Ông còn đem giống ngô về vùng sông Đáy, tạo nên một nông sản mới ở đây. Ngoài ra, Phùng Khắc Khoan còn xây dựng nhà đọc sách, bình thơ văn gọi là “Hoằng Đạo thư đường” và làm hai chiếu câu lợp ngói cho quê hương.
 Ông sáng tác nhiều thơ văn, chữ Nôm có Ngư phủ nhập đào nguyên làm lúc bị đi đày ở Thành Nam (Con Cuông, Nghệ An), hiệu còn ca khúc Lâm tuyền vãn nói về cảnh đồng quê, cảnh vùng trồng các loại rau quả. Về thơ chữ Hán có Ngô chí thi tập, Mai lĩnh sứ hoa thi tập. Thơ văn của ông là tiếng nói của tầng lớp sĩ phu muốn giúp dân giúp nước, ông là tác giả lớn trong thế kỉ XVI, XVII.
 Do những cống hiến xuất sắc về nhiều mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, và uy tín rộng lớn của ông, người đương thời tôn ông là Trạng Bùng. Sau khi ông qua đời, dân làng thờ ông là tổ sư nghề dệt lượt, xây đền tưởng nhớ công ơn ông.
 

Việt Nam - các nhân vật lịch sử - văn hóa/ hanoi1000nam.vn

 

Phùng Khắc Khoan - Trạng được dân phong

15/04/2010 10:15:06

- Trong danh sách 46 ông Trạng "chính thống" không có tên ông. Nhưng ông là người duy nhất đỗ tiến sĩ mà được dân tôn xưng là Trạng. Đó là Trạng Bùng.
 
Thi cử lận đận


Mẹ ông, bà Nhữ Thị Thục là con quan Thượng thư bộ Hộ triều Lê Nhữ Văn Lan. Năm 1491, bà lấy chồng họ Nguyễn và sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Do bất hòa trong việc dạy dỗ con, bà bỏ chồng về quê ở trấn Sơn Tây và lấy người chồng khác họ Phùng ở làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, nay thuộc Hà Nội và đến năm 1528 sinh ra Phùng Khắc Khoan.

Khắc Khoan có tư chất thông minh từ nhỏ. Tương truyền ngay từ khi cậu mới 10, 12 tuổi, thiên hạ đã lưu truyền lời sấm: "Văn tinh cửu dĩ xuất Phùng thôn" (sao Văn hiện ra ở làng Phùng lâu rồi). Văn tinh là ngôi sao tượng trưng cho người tài, nhằm chỉ Phùng Khắc Khoan.

Trong khi đó, ở làng Trung Am, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng), Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nổi tiếng là người thông tuệ. Nhưng vì lúc đó thế sự rối ren nên ông vẫn ở quê nhà chưa đi thi. Theo lời nhắn gửi của bà Nhữ Thị Thục, sau khi bà mất, ông Phùng dẫn con về Hải Dương nhờ Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.

Khoa thi Hương năm Nhâm Tý  (1552) đời vua Mạc Mậu Hợp, Phùng Khắc Khoan đỗ hương cống (cử nhân), nhưng bị đánh tụt xuống sinh đồ (tú tài). Lý do chỉ vì trước đó, lớp đàn anh của Phùng Khắc Khoan là Lương Hữu Khánh đã bỏ vào Thanh Hóa thi với nhà Lê. Thành ra Phùng Khắc Khoan bị vạ lây.

Thời ấy nhà Mạc đã bước vào thời kỳ suy thoái. Nguyễn Kim và sau đó là Trịnh Kiểm đã phò trợ con cháu nhà Lê, xây dựng triều đình Lê Trung Hưng ở xứ Thanh. Phù Lê hay ra giúp Mạc là câu hỏi lớn đặt ra trước Phùng Khắc Khoan.

Ông cứ băn khoăn mãi, dò ý Trạng Trình vừa là thầy vừa là anh, nhưng không thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm nói gì. Đêm ấy hai thầy trò cùng ngủ chung, trời chưa sáng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đánh thức em dậy mà bảo: Gà gáy rồi, trời đã sáng, sao không dậy, ngủ mãi ư?
 

s
Mộ phần của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.

Vốn biết Trạng Trình là người thông hiểu lý số, thường nói ẩn dụ, Phùng Khắc Khoan hiểu ý rằng đã đến lúc vào giúp nhà Lê dựng nghiệp. Phùng Khắc Khoan bèn từ biệt thầy bí mật lên đường, tránh sự truy bắt của quan quân nhà Mạc.

Vị phúc thần của dân

Năm 1557, Phùng Khắc Khoan đỗ đầu khoa thi Hương, nhưng phải đến kỳ thi Hội năm Quang Hưng thứ 3 (1580) ông mới thi đỗ Hoàng giáp, tức Đệ nhị giáp Tiến sĩ, lúc đã 52 tuổi.

Phùng Khắc Khoan ra làm quan, nhưng vì tính hay nói thẳng trái ý vua nên bị  biếm chức đầy ra tận Con Cuông, vùng núi heo hút của tỉnh Nghệ An.

Năm 1592, nhà Lê đánh thắng nhà Mạc, trở lại kinh thành Thăng Long thiết lập chế độ vua Lê - chúa Trịnh. Năm 1597, Phùng Khắc Khoan được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc triều cống. Tại buổi lễ chúc thọ vua Minh, sứ thần các nước được yêu cầu làm thơ chúc tụng.

Phùng Khắc Khoan làm luôn 36 bài khiến vua tôi nhà Minh và các sứ thần đều sửng sốt. Minh Thần Tông đọc xong cất lời khen: "Nhân tài ở đâu cũng có. Xem thơ Khắc Khoan thấy rõ là người học rộng, lại đầy lòng trung nghĩa, thực là đáng khen". Vua Minh ban lệnh cho khắc in tập thơ của chánh sứ Việt Nam và gọi ông là "Phùng Kỳ lão", coi như bậc Trạng nguyên.

Trên đường đi sứ về,  đoàn sứ giả có dịp thăm nhiều xưởng dệt tơ. Phùng Khắc Khoan để ý quan sát và ghi chép kỹ lưỡng kỹ thuật của họ. Trở về  nước, ông đã phổ biến cách dệt tơ cho vùng quê Kẻ Bùng, từ đó nơi đây có nghề  sản xuất tơ lụa và nổi tiếng nhất là "lượt Bùng".

Khi tuổi đã cao, trải qua ba đời vua, ông về trí sĩ tại quê nhà  và cho dựng nhiều công trình văn hóa và thủy lợi còn lại đến ngày nay. Nhân dân biết ơn ông, xưng tụng ông là Trạng Bùng và khi mất ông được lập miếu thờ và tôn làm phúc thần. 

Dĩ  Nguyên

 

Phùng Khắc Khoan

Thứ hai - 07/03/2011 14:51
  •  
  •  
  •  
Ngày xưa, về đời nhà Lê, ở làng Phùng Xá, đất Sơn Tây có một thư sinh tên là Phùng Khắc Khoan. Tương truyền rằng Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khoan lớn lên, bà mẹ cho xuống Hải Dương theo học anh là Nguyễn Bỉnh Khiêm, về sau đỗ tiến sĩ, giúp nhà Lê trung hưng, làm được nhiều việc lớn. Đến khi nhà Nguyễn khôi phục được kinh thành Thăng Long, Phùng Khắc Khoan được cử đi sứ triều Minh.

Trong khi đi sứ, vua Tàu phục tài văn thơ của ông trong một lúc làm luôn 36 bài thơ mừng, phong ông làm Lưỡng quốc Trạng Nguyên. Khi trở về qua tỉnh Lạng Sơn, ông gặp Liễu Hạnh công chúa hiện hình chơi trên đỉnh núi, đôi bên cùng đọc thơ xướng họa, rồi bà chúa Liễu biến mất.

Tục truyền rằng Liễu Hạnh công chúa là con gái Ngọc Hoàng, tên Quỳnh Nương, lỡ tay làm rơi vỡ chén ngọc ở Thiên đình, bị đày xuống trần, đầu thai làm người vào đời Hậu Lê, ở nhà Lê Thái Tông, đất Vụ Bản (Nam Định). Họ Lê đặt tên con gái là Giáng Tiên, lớn lên lấy chồng Đào Lang. Sau ba năm chăn gối, đến ngày mồng ba tháng ba, Giáng Tiên bay về trời, nhưng vì chưa hết hạn ở hạ giới, nên Ngọc Hoàng lại đày xuống thế một lần nữa. Bận này nàng công chúa thượng giới đi cùng với hai tiên nữa là Quế Nương và Thị Nương xuống miền Phố Cát (Thanh Hóa). Nàng thường ngao du hiện ra nhiều nơi, làm nhiều việc hiển linh, được triều đình phong sắc là công chúa Liễu Hạnh, vào hạng tứ bất tử của Việt Nam, sau các Thần Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử.

Chính trong một cuộc du ngoạn mà công chúa Liễu Hạnh gặp nhân sĩ họ Phùng. Sau cuộc họa thơ cùng tiên nữ tài hoa, Phùng Khắc Khoan đi gặp gỗ chất ngổn ngang trên đường, nhận thấy sắp chữ Liễu Hạnh và chữ Phùng, đoán biết là ý tiên nữ muốn ông đứng ra lập đền thờ bà.

Phùng Khắc Khoan còn gặp Liễu Hạnh hiện ra một lần nữa, trong lúc cùng hai người bạn họ Ngô, họ Lý đi chơi thuyền Hồ Tây, và kẻ tiên người tục cùng nhau làm thơ xướng họa liên ngâm còn truyền lại đến ngày nay.

 

Trạng Bùng

Thứ hai - 07/03/2011 14:55
  •  
  •  
  •  
Trạng Bùng Tác giả: Phùng Khắc Khoan Phùng Khắc Khoan là người làng Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (Bắc Việt). Theo sách sử để lại thì ông Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với ông Trạng Trình. Nguyên bà mẹ Ông Trạng Trình và Phùng Khắc Khoan là Từ Thục phu nhân là người họ Nhữ, con gái quan Hộ bộ thượng thư là Nhữ văn Lang ở làng An Tử, huyện Tiên Minh. Bà là người học giỏi, thơ hay, lại tinh thông lý số.

Lấy ông Vân Định, sinh ra Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà Từ Thục phu nhân nửa đường đứt gánh, lên Sơn Tây lấy chồng khác rồi sinh ra Phùng Khắc Khoan. Cũng như Trạnh Trình, Phùng Khắc Khoan có tư chất thông minh từ nhỏ. Lúc lớn lên, bà cho xuống Hải Dương theo học ông anh là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

ông Khiêm hết lòng dạy dỗ em nên chẳng mấy lúc Phùng Khắc Khoan nổi tiếng văn chương tài đức.

Lúc bấy giờ, nhà Lê giữ ở Thanh Hóa. Tính độn, Trạng Trình biết rằng nhà Lê thế nào cũng có thời trung hưng, ông bèn sai Phùng Khc Khoan vào Thanh Hóa phò nhà Lệ Gặp Phùng Khắc Khoan, vua Lê Trang Tôn mừng lắm, đãi vào hàng quân sự Phùng Khắc Khoan lập nhiều mưu kế, có nhiều kế hoạch để lấy lòng dân, thu dụng người ở các nơi lân cận. Vua Trang Tôn tin dùng hết sức. Đến thời vua Thế Tôn khôi phục thành Thăng Long, vua sai Phùng Khắc Khoan đi sứ nhà Minh để vận động phong tước. Nhà Minh phong vua Thế Tôn là "An Nam đô hộ sứ".

Khắc Khoan trả lại sắc phong cho vua Minh và tâu:

- Chúa tôi là họ Lê, nguyên là dòng dõi nước Nam, không có tội tình như họ Mạc mà thiên triều lại phong tước như họ Mạc, chúa tôi không nhận sắc mệnh được. Dám mong thiên triều xét lại, chớ quả là không dám nhận.

Thấy Phùng Khắc Khoan trình thế, vua Minh tự nhủ "quan chức của Thế Tôn, mà ăn nói đàng hoàng, lý sự như thế, chắc hẳn Thế Tôn không phải người vừa".

Bèn đổi sắc lệnh mà phong cho Thế Tôn làm "An Nam Quốc vương".

Trong thời ky đi sứ nhà Minh bên Tàu, gặp ngày Tết Nguyên Đán, vua Minh ra lệnh cho các đình thần và các sứ thần ngoại quốc mỗi người phải làm một bài thơ chúc mừng. Ai cũng dâng lên một bài. Riêng Phùng Khắc Khoan ngay lúc đó dâng lên tới ba mươi sáu bài thơ, ý khác nhau, lời khác nhau, làm cho vua Minh phải kinh ngạc sao lại có người làm thơ hay mà nhanh đến như thế. Vua Minh bèn phê cho đỗ Trạng nguyên (Trạng nguyên cả nước Nam lẫn nước Tàu) vì thế mới có tên là Trạng Bùng (vì ông Phùng Khắc Khoan sinh ở làng Phùng xá, tứ là làng Bùng).

Tục truyền khi Trạng Bùng đi sứ về đến Lạng Sơn ông được thấy bà Liễu Hạnh hiện lên trên đỉnh núi mà ở dưới chân núi thì gỗ để ngổn ngang, lại có chữ "Liễu Hạnh" và chữ "Bùng". Ông biết ý Chúa Liễu liền cho lập đền thờ Chúa Liễu ngay tại đó.

Về sau về đến Hồ Tây, bà Chúa Liễu lại hiện ra lần nữa để tạ Ơn ông. Hai người làm thơ sướng họa với nhau rất nhiều, người sau bình phẩm không thể quyết thơ của người nào hay hơn thơ người nào.

Nguồn: http://tieuhochongdu.edu.vn/vi/index.php?language=vi&nv=thu-vien-truyen&op=Danh-nhan-Nuoc-Viet/Phung-Khac-Khoan-55

 

Phùng Khắc Khoan (1528-1613): Sứ giả "toàn quân mệnh - tráng quốc uy" Print E-mail
Written by PGS. Bùi Duy Tân   
Sunday, 01 November 2009 23:07
PHÙNG KHẮC KHOAN (1528-1613):

SỨ GIẢ "TOÀN QUÂN MỆNH - TRÁNG QUỐC UY"[1]

 

PGS. BÙI DUY TÂN

(Bộ môn Văn học trung đại  – Khoa Văn học)

 

 

 

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là “chân đệ nhất nhân”[2] thời Lê Trung Hưng, là danh nhân đất nước có “Cuộc đời ngoại hạng”[3] Huân công thắng Mạc phù Lê, từ chương bang giao hoa quốc “thấm đượm khí thiêng sông Lô non Tản”[4] của Trạng còn mãi với non sông đất nước Nam ta. Bài viết này chỉ đề cập tới công trạng và thơ văn bang giao, phương diện đặc trưng nhất trong sự nghiệp kinh bang tế thế của Phùng Khắc Khoan.

LƯỢC SỬ MỘT DANH NHÂN

Phùng Khắc Khoan quê làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây, nay thuộc Hà Tây. Khắc Khoan là tên huý, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, biệt hiệu là Mai Nham Tử. Khi trở thành vật tài ba đức độ ở đời, dân tôn xưng ông là Trạng Bùng (ông trạng làng Bùng), khi từ chương, sứ sự nổi danh lại được đời phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên, chứ thực ra ông không hề thi đỗ Trạng nguyên ở ta cũng như ở Tàu bao giờ cả.

Phùng Khắc Khoan nổi tiếng văn tài từ hồi trẻ, lớn lên với Vĩnh Lại, Hải Dương theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[5] nên kiêm thông cả thuật số nhưng kiểm trung với nhà Lê, không chịu ra thi và làm quan triều Mạc. Năm Quý Sửu (1553) lặn lội vào Thanh Hoá, tham gia công cuộc Trung hưng, Trịnh Kiểm biết ông là người mưu lược tài ba, học vấn uyên bác, bèn giữ lại trong quân lữ, hậu đãi phong cho chức tước. Năm Canh Thìn (1580), nhà Lê Trung hưng mở Hội thi[6] ở hành tại Vạn Lại, Thanh Hoá, lấy đỗ sau người, Phùng Khắc Khoan đỗ thứ hai, sau Nguyễn Văn Giai, được thăng chức Đô cấp sự trung. Năm Nhâm Thìn (1592), Lê Trung hưng thắng Mạc trở về kinh đô, Phùng Khắc Khoan được vinh phong: Trung nghĩa nội luỹ, Kiệt tiết Tuyên lực công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Tán trị Thừa chánh sứ Thanh Hoá. Trong dịp này, nhiều đại thần cùng triều làm thơ ca ngợi công huân, đức độ của ông. Năm Đinh Dậu (1597), Phùng Khắc Khoan là chánh sứ sang sứ triều Minh. Cuối năm sau, sứ sự thành công trở về nước, ông được thăng chức Lại bộ Tả thị lang, tước Mai Lĩnh hầu. Trong đời Lê Thế Tông (1600 - 1619), ông lĩnh chức Công bộ Thượng thư, kiêm Quốc tử giám Tế tửu. Ông mất năm 1613, hưởng thọ 86 tuổi, được truy tặng Thái phó, ban Thụy là Nghị Trai, được dân thờ làm phúc thần. Đền thờ Trạng ở thôn Bùng, một di tích lịch sử văn hoá được nhiều lần tôn tạo, vẫn đêm ngày đen hương toả rạng.

DIỄN BIẾN BANG GIAO SỨ  SỰ[7]

Trong sự nghiệp an nguy trị loạn vì nước vì dân của mình, bang giao là lãnh vực mà Phùng Khắc Khoan có cống hiến to lớn và độc đáo.

Bấy giờ trên đất nước ta, cuộc nội chiến coi như kết thúc, sau khi Trịnh Tùng chiếm được kinh đô, đuổi họ Mạc lên Cao Bằng. Thời kỳ thái bình dựng nước bắt đầu, trong đó bang giao với đế chế Minh có tầm quan trọng sống còn đối với an ninh xã hội, nay bước sang giai đoạn mới, đầy khó khăn, phức tạp. Nhà Mạc, sau khi thất bại vẫn tố cáo với nhà Minh là họ Trịnh giả danh họ Lê để diệt Mạc. Vua Minh nhiều lần sai sứ đem điệp văn đòi vua Lê phải lên Trấn Nam giao để khám xét cho rõ thực hư.

Đầu năm 1596, Thượng Thư Đỗ Uông và Đô Ngự sử Nguyễn Văn Giai đến Trấn Nam giao cùng Minh quan Trần Đôn Lâm trao đổi giấy tờ. Sau đó, Phùng Khắc Khoan cùng hai hoàng huynh Lê Ngạnh, Lê Hựu mang theo hai tờ in mẫu ấn An Nam đô thống sứ ty và An Nam quốc vương, cùng 100 cân vàng và 1000 lạng bạc, với nhiều kỳ lão đến hội khám ở Trấn Nam giao. Song Trần Đôn Lậm một mực yêu sách hội khám phải có mặt vua Lê. Mười ngày sau, Lê Thế Tông được các đại thần Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Liêu, Trịnh Đỗ hộ giá, đành đến nơi hội khám. Người Minh lại trở mặt, thoái thác, việc hội khám không thành.

Cuối năm 1596, Đỗ Uông và Trịnh Vĩnh Lộc, đầu năm 1597, Đỗ Uông và Nguyễn Văn Giai đều có mặt ở biên giới, tìm cách thoả mãn yêu sách của nhà Minh, nhưng công việc vẫn trì trệ. Mãi đến tháng 3 năm 1597, Lê Thế Tông phải điều binh khiển tướng lên tận biên ải, rồi qua Bằng Tường đất Quảng Tây, cùng các thần tử nhà Minh hội khám, từ đó triều Lê Trung hưng mới lại bước đầu khôi phục quan hệ bang giao với nhà Minh.

Hội khám tất nhiên chỉ giải quyết được một số công việc có tính chất cấp thiết và cập nhật; như công nhận vua Lê, ở cấp thấp, như khôi phục lệ cống nạp…; quan hệ Nam Bắc đang còn nhiều công việc phải làm. Vì thế, tháng 4 năm Đinh Dậu (1597) triều đình cử Phùng Khắc Khoan làm chánh sứ. Nguyễn Nhân Thiệm làm phó sứ sang nước Minh cống nạp và xin tước cho vua Lê.

Sứ bộ tới biên giới, nhà Minh nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, không cho đoàn nhập cảnh. Phùng Khắc Khoan đưa thư cho Súy Ty nhà Minh kể rõ chuyện họ Mạc cướp ngôi nhà Lê. Bây giờ, con cháu nhà Lê lấy lại nước, đến cửa quan đợi mệnh, mà thiên triều lại giúp nhà Mạc, đè nén nhà Lê, thế là về bè với kẻ giản tà, hại người ngay thẳng, lấy gì để tỏ đại nghĩa với thiên hạ, giúp danh giáo cho muôn đời sau. Người Minh khen là có nghĩa, mới cho sứ thần qua cửa quan. Từ Trấn Nam giao đi Yên Kinh, tức Bắc Kinh ngày nay, đường dài muôn dặm, khi đi bộ, lúc ngồi thuyền, đoàn sứ bộ 23 người[8]. Do một ông già 70 tuổi dẫn đầu, xông pha sương tuyết, giãi gió dầm mưa từ tháng 4 đầu hè đến tháng 10 đầu đông Đinh Dậu (1597) mới tới Yên Kinh. Trước khi vào chầu, vật phẩm cống nạp lại bị Lễ bộ đường nhà Minh trách cứ: Nhà Mạc cướp ngôi, danh nghĩa là nghịch, nhà Lê khôi phục lại danh nghĩa là thuận. Nhà Mạc dâng người vàng hình cúi đầu thay mình, đã là may lắm. Còn như nhà Lê bao đời làm công thần, kiểu người vàng ngửa mặt, quy chế cũ còn đó. Nay lại bắt theo như lệ nhà Mạc, thì lấy gì để khuyên việc chiêu an và trừng giới kẻ phạn loạn. Việc đến tai vua Minh, cuối cùng cho theo thể thức cũ của nhà Lê[9], bấy giờ sứ mới được vào chầu. Vua Minh xem tờ biểu của nhà Lê, bèn xuống chiếu phong vua ta làm An Nam Đô thống sứ ty Đô thống sứ, ban ấn bạc và quyền quản hạt nhân dân nước Nam. Phùng Khắc Khoan dâng biểu biện bác rằng: chủ của thần là họ Lê, dòng dõi An Nam quốc vương, sao lại chịu phong tước Đô thống sứ như họ Mạc tội đồ kia được? Vua Minh cười và nói rằng: “Chủ của ngươi tuy không ví như họ Mạc, nhưng vì mới lấy lại được nước, sợ lòng người chưa yên, hãy cứ nhận đi, sau sẽ gia phong vương tước cũng chưa muộn gì. Người nên kính theo, chớ cói từ chối”. Khắc Khoan đành bái nhận ra về.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ khi sứ bộ khởi hành đến khi sứ bộ về nước trước sau cộng 1 năm lẻ 4 tháng. Trong buổi triều yết tuyên đọc sắc phong của thiên triều do sứ bộ Phùng Khắc Khoan đem về, thấy ấn ban nói là bằng bạc mà lại là đồng. Trịnh Tùng bèn cùng văn võ đại thần hồi thư trách nước Minh, do uỷ quan Vương Kiến Lập mang về.

Như vậy, thành quả lớn về bang giao của Phùng Khắc Khoan là đã khai thông quan hệ giữa Triều Lê với đế chế Minh vốn đang bế tắc, đã tranh biện với lý lẽ quang minh chính đại để thiên triều chính thức công nhận chính quyền nhà Lê của nước Nam.

VĂN CHƯƠNG BANG GIAO VỆ QUỐC

Thời gian ở Yên Kinh, gặp Lễ chúc thọ vua Minh, Phùng Khắc Khoan đã dâng 35 bài thơ chúc thọ, với một cái tên khá dài: An Nam kỳ mục Phùng Khắc Khoan vạn bái vạn chúc hạ thiên triều hoàng đế vạn thọ tiết thị (Thơ của kỳ mục nước An Nam là Phùng Khắc Khoan muôn lạy muôn chúc mừng tiết vạn thọ của thiên triều hoàng đế). Thượng thư Trương Vị triều Minh khi dâng tập thơ này lên vua Minh thì gọi là Vạn thọ thi tập (Tập thư Vạn thọ). Lý Túy Quang, sứ thần Triều Tiên, khi viết tựa cho tập thơ, đề rõ: An Nam sứ thần vạn tho thánh tiết khánh hạ thi tập tự (Bài Tựa tập thơ mừng vạn thọ thánh tiết của sứ thần An Nam). Vua Minh xem thơ liền chính tay phê rằng: “Hiền tài hà đại vô chi, Trẫm lãm thi tập cụ kiến Phùng Khắc Khoan trung khổn, thù khả thâm giao bao my”. Tức mệnh hạ khắc bản ban hành thiên hạ (Người hiền tài đời nào mà không có. Trẫm xem tập thơ này, đủ thấy rõ tấm lòng trung chính thành thực của Phùng Khắc Khoan, thật đáng khên ngợi lắm. Rồi lệnh ngay cho khắc thành bản in, ban hành trong thiên hạ).

Đây quả là một việc hy hữu trong lịch sử thơ văn bang giao, Phùng Khắc Khoan là thi nhân sứ giả đầu tiên của nước ta đột phá vào sứ sở của vương quốc thi ca Trung Hoa thời Minh, bằng một thi phẩm đích thực. Nhiều thi hữu của Phùng Khắc Khoan người Minh, người Triều Tiên đều khen lao thán phục. Làm đến 35 bài thơ, cùng một chủ đề chúc hạ nhà vua bát tuần thượng thọ, để thiên tử và sĩ đại phu đọc mà không nhàm chán, mà phải ngợi khen, lại sai khắc in để quảng bá, ai dám bảo đó là thơ ca thù tục, phấn sáp của từ chương giao tế. Tuy cái vốn văn hoá thi pháp đồng văn cũng cho nhà thơ những thuận lợi, song phải có tinh thần vô tốn, bất dị sứ giả - Việt nho, cùng với tài thơ thực sự mới tạo tác được một hiện tượng văn chương bang giao độc đáo, một lợi khí giao hảo đắc dụng như thế. Một số học giả thời nay cho rằng Phùng Khắc Khoan dùng sách lược ngoại giao văn chương, là đã phần nào thấy rõ thực chất và ý nghĩa thực tiễn, cập nhật của thi phẩm.

Thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan có đến 140 bài, gộp lại ở Mai Lĩnh sứ hoa thi tập. Ngoài những bài thơ chúc thọ nói trên, còn cụm Bắc sứ đăng trình tự thuật thiDữ Triều Tiên sứ thần xướng hoạ thị. ở đâu Phùng Khắc Khoan cũng thể hiện bản sắc dân tộc, bản sắc thời đại, bản sắc đại gia. Lý Túy Quang, quốc sư Triều Tiên, người được Phùng Khắc Khoan mời đọc và viết Tựa cho tập Vạn Thọ thi tập có nhận xét: “Nay sứ thần là ông Phùng, đầu tóc bạc phơ, thân hình gầy cứng, tuổi bảy chục mà nét mặt tơ măng, đường đi tiếng nói ba lần phiên dịch mà chân chẳng thành chai kén… Thơ ông làm chúc mừng vạn thọ thánh tiết có bao nhiêu bài khen ngợi, phô bày, lời lẽ ý tứ hồn hậu đủ để nhà Ngọc phun châu và tiếng kêu như tiếng ngọc, thế chả phải là dị nhân ư”. Đỗ Uông, một đồng liêu, viết cho Mai Lĩnh sứ hoa thi tập những lời Tựa, thật trên cả sự tuyệt vời: “Ông vốn là người kiên trinh chất phác, nổi tiếng hay tiếng tốt đã lâu, cho nên ông đi sứ nói những lời trung hậu, ôn hoà, làm toàn vẹn được mệnh vua, làm mạnh mẽ được uy nước. Làm nhân hậu dân sinh, trường thọ quốc mạch…”, Tiên hiền có nói: thơ có luyện hàng trăm lần mới thuần thục, người có trải nhiều gian nan mới hoá lão thành. Ông thật được như câu nói ấy. Cuối cùng là nhận xét của Lê Quý Đôn, nhà bác học, một sứ thần nổi tiếng thời sau: “Phùng Khắc Khoan phụng mệnh đi sứ, tuổi đã ngoài 70, không những biện bạch quang minh chính đại, đạo đạt được mệnh lệnh của vua, làm mạnh mẽ được thể chế trong nước, đến như 30 vần thơ dâng mừng Thánh tiết và hơn 10 vần thơ đáp lại chánh phó sứ nước Triều Tiên, tài tứ chứa chan, cách điệu tươi đẹp, y như lúc còn trẻ tuổi. Như thế chả phải là được linh khí núi sông giúp đỡ đây ư?”.

Người xưa xếp thơ đi sứ thời Lê Trung hưng là loại thơ thượng thặng, trong đó 5 tác giả hàng đầu là Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Tông Quai, Nguyễn Huy Oánh, Hố Sĩ Đống, Lê quý Đôn, Ngô Thì Nhậm khi viết Tựa cho Tinh sà kỷ hanh của Phan Huy ích có cái nhìn tinh tế: “Từ Lê Trung hưng về sau, các nhà thơ có danh tiếng thường thấy trong các tập thơ đi sứ, hoặc thăm chốn thanh u, viếng nơi cổ tích, gặp cảnh mà sinh tình. Hoặc xa cố quốc, nhớ quê nhà, nhân việc mà tỏ ý. Mỡ rớt hương thừa, có thể nhuần thấm cho đời sau”. Thơ văn và hành vi, quan hệ của sứ bộ, của chánh sứ Phùng Khắc Khoan trên đất Trung Hoa, không những có giá trị “toàn quân mệnh tráng quốc uy”, “nhân dân sinh, thọ quốc mạnh” mà còn là để phát huy tinh thần hữu hảo với người Minh và với sứ thần của các nước.

KHAI SÁNG QUAN HỆ VIỆT TRIỀU

Dựa vào chứng tích lịch sử, có thể coi Phùng Khắc Khoan là người khơi mở quan hệ hữu hảo Việt Triều, nhân dịp dự lễ chúc thọ thiên tử nhà Minh ở Yên Kinh.

Trước đây, cố sứ giả Trần Văn Giáp cho rằng thời Trần Anh Tông thế kỷ XIII, đã có giao tiếp giữa Mạc Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly trên đất Trung Hoa. Từ đó, Mạc Đĩnh Chi trở thành nhân vật huyền thoại trong một số truyện dân gian ở Triều Tiên, thực hư thế nào hiện chưa rõ.

Gần đây, câu chuyện người ông Lý Dương Côn thế kỷ XII và sau đó người cháu Lý Long Tường thế kỷ XIII, không biết bằng cách nào vượt biển tới Cao Lý, đây là chuyện tha hương lập nghiệp, tị nạn ở nước người, chưa có tính chất một quan hệ song phương.

Trước chuyến công du của sứ giả họ Phùng, chưa thấy có một mối quan hệ giao tiếp nào giữa Đại Việt và Cao Ly. Quan hệ giao lưu có tính chất song phương phải đến thế kỷ XVI mới thực sự được khai phá, bởi Lý Túy Quang của Triều Tiên và Phùng Khắc Khoan của Đại Việt. Số là lễ “Khánh tiết vạn thọ” năm ấy, sứ thần các nước chu hầu đến Yên Kinh quá nhiều. Người Minh buộc phải để sứ bộ nước ta và sứ bộ Triều Tiên được ở một nới. Nhân đó, bút đàm xướng hoạ, tặng đáp thơ văn, hoà hiếu hữu hảo theo tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”.

Lý Túy Quang hiệu là Chi Phong, chánh sứ Triều Tiên biết rộng, đỗ cao, có văn tài học hạnh, từng khởi xướng phong trào thực học, năm gặp sứ bộ ta[10], tuổi đời mới 35, bằng nửa tuổi Phùng Khắc Khoan, thế mà đã đi sứ Minh lần thứ ba. Lần đi sứ năm Canh Dần, theo bài Chí của Lý Túy Quang thì người Minh chó mỗi sứ bộ ở một nhà riêng, cấm không được đi lại thăm nhau, chỉ gặp mặt nhau khi triều hội, cho nên lần đi sứ này ông không được gặp sứ thần Việt Nam, không có thơ văn xướng hoạ, thậm chí ông không ghi tên cả vị sứ thần của Triều Mạc nước ta. Còn lần đi sứ năm Đinh Dậu này, theo ghi chép của Lý Túy Quang: “Tới Yên Kinh đúng vào ngày đông chí, có tiệc mừng, người nước ngoài đến nhiều, nhà cửa chật chội nên khác với lệ xưa, nay được cùng ở với sự bộ An Nam, thời gian đến hơn 50 ngày, nên được đi lại quen thuộc, hỏi han nhau tường tận lắm”. Cuộc tao ngộ, theo Lý Túy Quang “hữu số ư kỳ gian” ấy đã để lại một chùm thơ văn bang giao đặc sắc, quý giá. Số thơ văn hiện còn lại trong Mai Lĩnh sứ hoa thi tập của Phùng Khắc Khoan không đầy đủ bằng trong An Nam quốc sứ thần vấn đáp lục[11]của Lý Túy Quang. Đọc tập thơ văn còn lại khá đầy đủ này, thấy rõ: Cuộc gặp gỡ giữa hai sứ giả - nhà thơ thực sự là cột mốc quan trọng, đánh dấu sự khai sáng quan hệ bang giao Triều Việt. Lời thơ vừa phản ánh mục đích, phương thức giao tiếp giữa ta và Triều Tiên theo tinh thần văn hoá đồng văn “tứ hải giai huynh đệ”, vừa thể hiện thực chất của sự giao tiếp là hữu hảo chân tình, là tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau về đất nước, con người, sinh hoạt văn hoá giữa các dân tộc đồng văn dị quốc. Đặc biệt qua một số bài văn Tựa, Chí, Hậu, Vấn đáp… của Lý Túy Quang, ta thấy khi thì đôi nét sống động về cuộc sống thấm đậm bản sắc phong vị An Nam: “Chuyến đi này có 23 người đều vấn búi tóc. Người cao quý thì nhuộm răng, người thấp hèn thì mặc áo ngắn, đi chân không… Nơi nằm thì phải ở trên giường, không có hầm sười. áo mặc phần nhiều là the lụa. Tính nết hiền lành, giỏi chữ, thích tập múa kiếm. Tiếng nói giống như Oa (Nhật Bản) mà nhiều thanh mỉm miệng. Chữ riêng của nước ấy thì viết lạ lám…” (Bài Hậu); khi thì phác hoạ chân thực vóc dáng, phong độ chân dung một ông già Việt sứ: “đầu tóc bạc phơ, thân hình gầy guộc, tuổi bảy mươi mà nét mặt con như trẻ, đườg đi xa mà chân cứng đá mềm… Ngài là bậc già cả thời cổ, thơ ngài làm ra còn tốt lành hơn dâng bạch trĩ xưa nhiều”[12] (Bài Tựa), hoặc “sứ thần họ Phùng tuổi ngoài bảy mươi, hình dáng lạ lùng, răng nhuộm đen, tóc vấn thành búi, áo dài, ống tay rộng, khăn đội trên đầu thì lấy cả khổ vải đen trùm lên, như dáng khăn ông sư, để một nửa rủ về đằng sau, xuống quá vai. Ông Phùng là người tuy già, sức còn trẻ, thường đọc sách, viết sách luôn” (Bài Hậu). Cuộc hội ngộ giữa hai chánh sứ Phùng Khắc Khoan - Lý Túy Quang là cột mốc ghi nhận sự mở đầu quan hệ hữu hảo Triều Việt, là dấu son tô thắm cuộc tao ngộ sứ giả - nhà thơ, tạo ấn tượng sâu đậm với thi nhân sứ giả thời sau:

“Tặng đáp nghĩ truy Phùng, Lý cựu,

Văn tình hà thí ẩm thuần cam”

(Tặng đáp muốn học theo Phùng, lý khi xưa.

Giao tình như chén rượu đưa ngọt ngào.)

-Phan Huy Ích-

SỨ GIẢ - THẦN NÔNG

Theo truyền thuyết, khi đi sứ về, cụ Phùng đã mang theo một số loại cây trồng, nghề dệt lượt và cách làm cày bừa. Ngô thì cụ gắt ở búi tóc, dây khoai lang thì cụ sai tuỳ tòng bện giả làm quai hòm, sắn thị cụ làm gậy chống, đậu đen thì cụ đút ở hậu môn, vừng thì ông đút ở đầu dương vật. Cụ quan sát, ghi nhớ cách dệt về giúp dân dệt lượt Bùng, cách làm nông cụ về giúp cả làng Nủa Vĩnh Lộc làm cày bừa. Đã nhiều lần đề cập đến chuyện này khi viết về Phùng Khắc Khoan, tôi cho rằng cụ Phùng với tư duy: “dĩ nông vi bản”, có thể đã đem về một số cách làm cày bừa… làm khung cửi dệt và một số nông sản mà ta chưa có, hoặc đã có nhưng khác loại. Lâu về sau, lượt Bùng, cày bừa Vĩnh Lộc đâu đâu cũng thích dùng. Theo khoán ước đã thành văn thì kỵ nhật ngày 24 tháng 9 hàng năm ở đền thờ Trạng, hai làng Bùng và Vĩnh Lộc phải có liễn cháo đậu, đĩa cà muối, bát canh, đĩa dưa đạm bạc đem cúng theo lời dặn lại của cụ, mà cũng là tưởng nhớ công ơn người đã mang các thứ ấy khi đi sứ về.

Huyền thoại trên đây rất phù hợp với tâm tính Phùng Khắc Khoan. Thời còn tại chức, ông viết Lâm tuyền văn bằng thơ lục bát Nôm, nhắc đến đủ cá loại cây hoa trái quả ở Thành Nam, Con Cuông xứ Nghệ. Khi đã về hưu, ông lại quan tâm khơi máng đào mương, tưới tiêu chống hạn cho ruộng lúa của cả một vùng quê. Với những tư liệu đậm tính truyền thuyết, dân dã này, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Phùng Khắc Khoan đúng là một vị Nông Thần. Dân gian làng Bùng - Phùng đã biến ông Tiến sĩ thành ông Trạng, rồi lại biến ông thành Thần Nông… Cuộc đời Trạng Bùng đã được huyền thoại hoá, huyền tích hoá quá nhiều. Đó là vì ông là một nhân tài ngoại hạng”[13]

HUÂN CÔNG BANG GIAO

(Thay lời kết luận)

Sự  nghiệp bang giao của Phùng Khắc Khoan có mấy thành tựu nổi bật:

1. Sứ giả già tuổi nhất, thành công đi sứ vào loại cao nhất.

Trong số hàng trăm sứ giả nước ta đi sứ Bắc thời trung đại, có khoảng 2/3 sứ giả có thơ văn đi sứ để lại. Sách tuyển thơ đi sứ tuyển thơ của khoảng trên 50 tác giả. Trong số tác giả này, không ai đi sứ có tuổi đời cao đến 70. Mạc Đĩn Chi đi sứ năm 24 tuổi, Nguyễn Trung Ngạn: 25 tuổi, Nguyễn Quý Đức: 45 tuổi, Nguyễn Tông Quai: 52 tuổi và 55 tuổi. Nguyễn Huy Oánh: 44 tuổi, Hố Sĩ Đống: gần 40 tuổi, Nguyễn Văn Siêu: 54 tuổi… Trong thời đại tuổi đời “thất thập cổ lai hy” thì cụ Phùng đi sứ năm 70 tuổi phải coi là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu.

Hơn nữa, với tuổi đời cao như thế, lại hoàn thành được sứ mệnh lịch sử với thành tựu cao nhất: Toàn quân mệnh, tráng quốc uy. Để rồi từ Hoàng đế Minh Thần Tông Vạn Lịch đến vua Nam Nguyễn Dực Tông Tự Đức; từ  Điện đại học sĩ Thiếu bảo Trương Vị nhà Minh đến Chi Phong đạo nhân Lý Túy Quang - sứ thần Triều Tiên; từ đồng liêu, đồng khoa Thái bảo Lể Quận công Nguyễn Văn Giai, Đại học sĩ Thiếu bảo Thông Quận công Đỗ Uông dến các đại bác học Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, đại ký giả Phạm Đình Hổ, Vũ Phương Đề; từ các kỳ lão, nhân sĩ kẻ Bùng đến những Thần Siêu, Thánh Quát… tất cả đều dùng không biết bao mỹ từ điển nhã, trang trọng, văn hoa để nhận xét, bình luận, đánh giá mà thực chất là đề cao Phùng Khắc Khoan - sứ giả - nhà thơ. Coi ông “Vốn có tài hào kiệt, đĩnh đạc vào bậc tướng lừng đất Bắc, chính sự vững trời Nam (Cao Bá Quát)… Thành công của chuyến đi sứ đã khiến quốc dân suy tôn là bạc sứ giỏi, “công nhận việc đi sứ là hoành tráng và biết nhất định thành công”. Thành tổ Bình An vương Trịnh Tùng rất kính trọng cụ Phùng, thường gọi là Phùng Tiên sinh chứ không gọi tên thực, khi đón cụ trở về, tâu ngay với vua thăng thưởng chức tước cao cho cụ. Huân nghiệp bang giao của Phùng Khắc Khoan ở tầm cỡ hiển vinh bậc nhất trong lịch sử bang giao nước ta thời trung đại.

2. Để lại tập thơ sứ trình tài năng và độc đáo.

Sứ thần ta thời phong kiến thường là những nhà thơ nổi tiếng, có văn tài học hạnh, thông hiểu sử sách, thấu suốt cổ kim, ứng đối hoạt bát mẫn tiệp, để bảo vệ lợi ích, uy tín của đất nước, để phát huy nền văn hiến dân tộc, để làm hay làm đẹp cho Tổ quốc ở nước ngoài. Phùng Khắc Khoan là một sứ thần có đủ tố chất sứ giả ấy. Tập thơ Mai Lĩnh sứ hoa thi của ông được Đỗ Uông viết bài Tựa vào loại hay nhất trong số những bài Tựa thơ đi sứ. Nó có khoảng 140 bài của ba chùm thơ như đã nói trên. Nó là tập thơ đi sứ tài năng và độc đáo. Vì nó là tư tưởng, hoài bão, tâm huyết của một sứ thần yêu nước, có dũng khí, có trách nhiệm với vua, với nước, với dân. Vì nó là chân tình, chính trực, lịch lãm trong lối thơ bang giao; vì nó có giá trị thu phục nhân tâm, tranh thủ được cảm tình ở cả đối tượng là khó khăn nhất. Vì nó thể hiện một tài thơ trác việt: “có thể lùa sóng bể vào nghiên mực, kéo văn tinh đến ngòi bút, thu vẻ xuân của trời đất, nhặt thắng cảnh của non sông, dồn cả vào cái roi ngâm vịnh… Nếu không phải là người có công phu dày dặn, có khí tượng cao cả thì sao có thể được như thế? (Đỗ Uông). Và sau hết, vì nó là tập thơ chân tình, giao hiếu với những người phương xa ngẫu nhĩ gặp nhau. Trong dòng thơ đi sứ Mai Lĩnh sứ hoạ xứng đáng là tập thơ có giá trị cao, nó hay và cũng lạ.

 

3. Người khơi mở quan hệ hữu hảo Việt Triều.

Như đã nói trên, trước khi Phùg Lý gặp nhau, chưa có tư liệu gì về quan hệ Triều Việt. Chỉ đến khi có cuộc tao ngộ giả - nhà thơ nhân dịp mừng thọ vua Minh, quan hệ ấy mới bắt đầu.

Cuộc tao ngộ Như có số trời cho ấy để lại một hành vi bang giao hảo hạng, một chùm thơ văn giao tình thân thiết giữa Chánh sứ Phùng Khắc Khoan và Chánh phó sứ Lý Túy Quang - Kim Dương dật sĩ. Sự kiện và chùm thơ văn ấy là mốc son đánh giấu sự mở đầu quan hệ bang giao Triều Việt, cũng là ghi nhận sự trao gửi thân tình của hai đại diện văn hoá giữa hai dân tộc đồng văn dị quốc, phía Đông và phía Nam đại lục Trung Hoa.

4. Sứ thần có nhiều huyền thoại bậc nhất:

Với “một nhân tài ngoại hàng” (Trần Quốc Vượng) như Phùng Khắc Khoan, huyền thoại tất nhiên là rất nhiều. Trong đó có những huyền thoại đã thấy kể là của các sứ thần khác, như Rêu xanh máu đỏ, Lưỡng quốc Trạng Nguyên, Ném vỡ chim sẻ giả… Đây là hiện tượng bình thường vì huyền thoại vốn truyền miệng, tập thể nên văn bản rất cơ động, linh hoạt, nhiều dị bản. Điểm qua về tư liệu, thấy có hàng chục giai thoại đi sứ của Phùng Khắc Khoan chẳng hạn: Dễ nhất - khó nhất, Ngon nhất - Quý nhất, Phân biệt ngựa mẹ ngựa con, Ngô xứ Đoài, Lượt Bùng, Cày bừa Vĩnh Lộc… đã gọi là huyền thoại, tức những huyện hay mà huyền hoặc, không thực thì không thể và không cần bảo đảm tính chính xác về lịch sử, về sự kiện, lại phải mặc nhận sự sai dị về tư liệu văn bản, về tình tiết, về thời gian xuất hiện[14]. Cái hay của huyền thoại là giúp ta hiểu thêm về con người và uy vọng lớn của sứ giả Phùng Khắc Khoan, từ một góc nhìn khoáng đạt, thế tục hơn, cho nên ý vị, hấp dẫn hơn. Trong số huyền thoại đi sứ của Phùng Khắc Khoan, có một số đúng là viết về ông, song cũng có một số, nhất là những huyền thoại hay, thì cũng thấy ở huyền thoại đi sứ của Mạc Đĩnh Chi, của Nguyễn Trực, của Nguyễn Tuấn, của Giang Văn Minh… Phùng Khắc Khoan là sứ giả có nhiều huyền thoại, trong đó có một số huyền thoại hay và rất đặc trưng.

Huân nghiệp bang giao hữu nghị hiển hách như thế, Phùng Khắc Khoan xứng đáng là sứ thần hiển vinh bậc nhất trong lịch sử bang giao của nước ta thời trung đại.4

Hà Nội, 9-2006

B.D.T.

[1] Nghĩa là: làm toàn vẹn được mệnh vua - làm mạnh mẽ được uy nước. (Trích tựa Thơ đi sứ Phùng Khắc Khoan của Đỗ Uông). --- Bài viết dẫn nhiều tư liệu về Phùng Khắc Khoan, tất cả đều trích xuất từ công trình Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác giả, tác phẩm, GS. Bùi Huy Tân (chủ biên), Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 2000.

[2] Trích câu thơ của Hoàng Trung: “Thật là bậc nhất” - bạn thơ, người cùng thời, cùng làm quan với Phùng Khắc Khoan.

[3] Trích lời bàn của GS Trần Quốc Vượng.

[4] Trích câu thơ: “Lô Tản sơn hà vãng cục thâm” của Thám hoa Hoàng Xuân Hiệp, đề ở mộ Phùng Khắc Khoan.

[5] Cho rằng ông với Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng chung “một bà mẹ dị kỳ” chỉ là ngoa truyền. Hiện chưa phát hiện một tư liệu đích thực nào về chuyện này. Thậm chí, việc Phùng Khắc Khoan là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không thấy một dấu ấn nào khi đọc hàng ngàn bài thơ. Bài băn của Trạng Trình và hơn năm năm bài thơ, bài văn của Trạng Bùng.

[6] Năm ấy không có Đình thí nên không có tam khôi đệ nhất giáp (Trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa). Sáu người đỗ đều là hoàng giáp, tức đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân.

[7] Hầu hết tư liệu viết ở phần này dựa vào bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.

[8] Theo bài Hậu của Lý Túy Quang, sứ thần Triều Tiên.

[9] Phùng Khắc Khoan chính là sứ thần giời biện bác, buộc nhà Minh phải Bỏ lệ cống người vàng cúi mặt.

[10] Khoảng cuối năm Đinh Dậu (1597), đầu năm Mậu Tuất (1598) - khi sứ bộ Đại Việt đến và ở lại Yên Kinh. (Sau đây gọi chung là năm Đinh Dậu - 1597)

[11] Tôi có toàn bộ tập tư liệu này, do TS Việt Nam học Bùi Lương Tú (Yong Bac) gửi từ Hàn Quốc sang.

[12] Lý Túy Quang có viết Tựa cho chùm thơ Vạn Thọ thánh tiết của Phùng Khắc Khoan.

[13] Làng Bùng - Trạng Bùng, Hà Tây Văn hoá thể thao, số tháng 2 - 1993.

[14] Chẳng hạn Nam Triều công nghiệp diễn chí viết về nội chiến Trịnh - Nguyễn từ 1627 trở đi, lại viết huyền thoại Phùng Khắc Khoan đi sứ, Tài chiết tự… khi ông đã qua đời 1613.

 

In trong: Những vấn đề mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn học,

(tập sách kỉ niệm 50 năm thành lập Khoa Văn học)

NXB ĐHQGHN, HN, 2006, tr. 241-252.

 

Trạng Bùng Đi Sứ. Phùng Thành Chủng
 

Năm Đinh Dậu, niên hiệu Quang Hưng thứ 20 (1597) đời Lê Thế Tông, Phùng Khắc Khoan (lúc đó đã 70 tuổi, đang giữ chức Công Bộ tả thị lang) được cử làm chánh sứ sang sứ nhà Minh. Khởi hành từ trung tuần tháng 4 đến tháng 10 sứ bộ đặt chân tới Yên Kinh. Gặp tiết Vạn Thọ của Minh Thần Tông – thay vì những lễ vật quý hiếm, đắt tiền - lễ vật mà Phùng Khắc Khoan dâng lên mừng thọ ông vua nước lớn này là một… tập thơ (30 bài). Đây là tập thơ có nhan đề: “An Nam sứ thần Vạn thọ thánh tiết khánh hạ”. Quả là một lễ vật đặc biệt. Xem xong, Minh Thần Tông đã phê: “Thế mới biết nhân tài không chỗ nào là không có. Trẫm xem thơ, thấy hết lòng trung thành của Phùng Khắc Khoan, rất đáng khen ngợi”. Là một tập thơ chúc thọ được sáng tác kịp thời, nhưng Phùng Khắc Khoan muốn qua đó chứng tỏ nước ta là một nước văn hiến và nhân đó đánh vào lòng tự hào nước lớn của Minh Thần Tông, nhằm buộc Minh Thần Tông phải thừa nhận nhà Lê. Tập thơ này sau đó được vua Minh lệnh cho khắc in để ban hành trong nước (có bài tựa của sứ thần Triều Tiên cũng sang sứ trong dịp đó là Hình Tào tham phán Lý Toái Quang).

 

Vì vẫn nhận lễ cống của nhà Mạc và vẫn ngầm mong cho cuộc nội chiến Lê - Mạc kéo dài, làm cho thế lực của cả hai bên đều suy yếu để ở giữa kiếm lời (lúc này Mạc Kính Cung đã chạy đi Thái Nguyên và Cao Bằng), Minh Thần Tông phong cho vua Lê chức Đô thống sứ ti - một cái danh hão như đối với nhà  Mạc (chứ không phong vương) – Phùng Khắc Khoan đã viết một bài biểu, trong đó có đoạn: “Chủ của thần họ Lê - vốn là dòng dõi của An Nam quốc vương, giận nghịch thần họ Mạc tiếm ngôi, cướp nước, không chịu được mối thù ngàn năm mới nằm gai, nếm mật, lo thu phục lại cơ nghiệp của tổ tông, nối theo dấu cũ của tiên đế. Họ Mạc kia vốn là bề tôi của họ Lê nước An Nam, vậy mà làm chuyện giết vua cướp ngôi, thực là tội nhân của thượng quốc, sao lại ngầm được phong chức Đô thống? Nay chủ của thần không có tội như họ Mạc, mà lại phải nhận chức như họ Mạc là nghĩa thế nào?’

 

Trước những lời lẽ sắc sảo đó, Minh Thần Tông phải gượng cười, chữa khéo: “Chủ của ngươi tuy không ví như họ Mạc, nhưng vì mới lấy lại được nước, sợ lòng người chưa yên, hãy cứ nhận đi, sau sẽ gia phong tước vương cũng chưa muộn gì…”

 

Thần thơ Nguyễn Văn Siêu (1795 – 1872) trong một bài thơ đề tặng Phùng Khắc Khoan hơn 200 năm sau đã gọi bài biểu là tờ kháng sớ (sớ chống lại thiên triều):

 

“ Đô thống vô vi tập thị danh

Kháng ngôn nhất sớ động Yên Kinh….”

 

(chức Đô thống chỉ là hư danh; Những lời lẽ (của Phùng Khắc Khoan) trong tờ sớ kháng chỉ đã làm lay động cả Yên Kinh).

 

Lần đi sứ này, Phùng Khắc Khoan đã gặp gỡ, xướng hoạ thơ phú với một số quan lại nhà Minh và với sứ thần các nước (cùng đi sứ trong dịp này), mong tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với nhà Lê. Đặc biệt, ông còn học được nghề dệt the, lượt và ngầm lấy được giống ngô và đỗ đen (cũng như kỹ thuật gieo trồng) mang về nước. Ngày 25 tháng 12 năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Hưng thứ 21 (1598), sứ bộ đặt chân đến Trấn Nam Giao (Lạng Sơn) sau chuyến đi sứ kéo dài đúng 1 năm lẻ 8 tháng.

 

Về danh hiệu trạng Bùng, nhiều tài liệu trước đây thường nhấn mạnh đến việc ông lấy được giống ngô, đỗ của Trung Quốc mang về; là người cải tiến và hướng dẫn chế tạo một số nông cụ như: cày, bừa, và là tổ sư của nghề dệt the, lượt, nên được dân phong trạng. Nói như thế là đã vô tình hạ thấp Phùng Khắc Khoan và danh hiệu trạng của ông; bởi - nếu chỉ như thế thôi - bất quá ông cũng chỉ là trạng của làng mình, hoặc rộng hơn của một địa phương, chứ không phải là của cả nước.

 

 

Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613) tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, quê làng Phùng Xá (tục gọi làng Bùng), huyện Thạch Thất (Hà Tây). Là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn trẻ ông đã nổi tiếng văn chương, kiêm thông thuật số. Không ra hợp tác với nhà Mạc, năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Bình thứ 2 - Mạc là niên hiệu Cảnh Lịch thứ 3 (1550), Phùng Khắc Khoan theo Lê Bá Li chạy vào Thanh Hoá quy thuận nhà Lê. Đỗ đầu khoa thi Hương đời Lê Trung Tông (1549 – 1556). Được Trịnh Kiểm tri ngộ, trao cho chức Ký lục, coi quân bốn vệ ở ngự dinh và được tham dự việc chính sự ở trong màn trướng. Dưới triều Lê Anh Tông được cử đi chiêu dụ dân lưu tán (vì cuộc chiến tranh Lê - Mạc) trở về quê cũ làm ăn, được thăng chức Binh Khoa cấp sự trung rồi Lễ Bộ cấp sự trung. Năm Canh Thìn, niên hiệu Quang Hưng năm thứ 3 (1580) đời Lê Thế Tông, nhà Lê mở lại khoa thi Hội, Phùng Khắc Khoan đã tham dự kỳ thi này và đỗ Hoàng giáp ở tuối 53 (khoa này tổ chức ở Thanh Hoá. Lấy đỗ 6 người, tên ông đứng thứ hai). Sau khi đỗ, được thăng Đô cấp sự, rồi Hồng lô tự khanh; sau đổi sang Công Bộ hữu thị lang, tiếp đến Thừa Chính sứ Thanh Hoa rồi Công Bộ tả thị lang. Năm 1597, được cử làm chánh sứ sang sứ nhà Minh. Lần đi sứ này, Phùng Khắc Khoan đã khiến vua tôi nhà Minh phải nể phục (ngưòi Trung Quốc đều khen là sứ giỏi. Minh Thần Tông gọi ông là Phùng kỳ lão – ông lão họ Phùng có kỳ tài. - chứ không gọi thẳng tên), làm rạng rỡ, vẻ vang cho quốc thể. Sau khi đi sứ về, được phong Lại Bộ tả thị lang, tước Mai lĩnh hầu. Có lẽ theo gương Minh Thần Tông, Trịnh Tùng cũng tránh gọi tên mà gọi ông một cách tôn kính là Phùng tiên sinh. Đời Lê Kính Tông (1600 – 1619) được thăng Thượng thư các bộ Công và Hộ, tước Mai quận công. Trải 4 đời vua, trên dưới 60 năm tham dự việc triều chính, Phùng Khắc Khoan được coi là bậc công thần đối với nhà Lê trong cuộc trung hưng. Về trước tác, ông còn là tác giả của nhiều bộ sách. Ngoài tập thơ: “An Nam sứ thần vạn thọ thánh tiết khánh hạ”  mừng thọ vua Minh ra, còn có: Sứ Hoa bút thủ trạch thi; Ngôn chí thi tập; Nghị Trai thi tập; Mai lĩnh sứ Hoa tùng vịnh; Phùng công thi tập; Đào nguyên hành (cũng gọi là Lâm tuyền vãn); Thượng thư sấm ký; Huấn đồng thi tập; v.v…..

 

Ngày 24 tháng 9 năm Quý Sửu (Tây lịch là ngày 06/11/1613), ông trút hơi thở cuối cùng tại quê nhà, hưởng dương 86 tuổi. Sau khi mất được tặng chức Thái phó và được phong là Phúc thần.

Với tài năng, đức độ và những cống hiến to lớn cho dân, cho nước (trên nhiều lĩnh vực, như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao,….), Phùng Khắc Khoan đã được người đương thời phong là Trạng nguyên (sau lần đi sứ về) và được các thế hệ tiếp nối mặc nhiên thừa nhận (mặc dù – như trên đã nói – ông chỉ đỗ Hoàng giáp). Theo mỹ tục, vì ông quê ở làng Phùng Xá (tục gọi là làng Bùng), nên nhân dân vẫn gọi một cách thân mật và trìu mến ông Trạng của mình là Trạng Bùng./.

 

Tài liệu tham khảo:

- Đại Việt sử ký toàn thư (NXB Khoa học xã hội – Hà Nội 1998)

- Lịch triều hiến chương loại chí (NXB Sử học – Hà Nội 1960)

- Phùng Lĩnh hầu thế hệ khoa hoạn phả.

 

Phùng Thành Chủng
Ngày đăng: 04.04.2011

Nguồn tin: http://www.hanoi1000nam.vn/index.php?page=phocuaban&do=browser&street_id=269

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 11


Hôm nayHôm nay : 304

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 27069

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6361409

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà