Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

CÔNG LAO TO LỚN CỦA DANH NHÂN PHÙNG TÁ CHU TRONG VIỆC PHÙ LẬP VƯƠNG TRIỀU MỚI NHÀ TRẦN

Thứ sáu - 27/10/2017 11:30

Phùng Tá Chu sinh ra trong một dòng họ nổi danh thư kiếm/danh gia vọng tộc trong thời kỳ dân tộc ta đấu tranh giành độc lập tự chủ và xây dựng nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ VI-X. Các vị tổ họ Phùng như Phùng Thanh Hòa hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lý Bí (Lý Nam Đế) chống ách đô hộ của nhà Lương, lập nên nhà nước Vạn Xuân (Giáp Tý 544). Phùng Hạp Khanh từng tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Hắc Đế) lật đổ ách đô hộ của nhà Đường (713-725), lập nên kinh đô Vạn An ở Sa Nam, Nam Đàn, Nghệ An. Phùng Hưng, con của Hạp Khanh cùng các em là Phùng Hải, Phùng Đĩnh tiếp tục lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống nhà Đường thành công vào năm Tân Mùi (791), được dân suy tôn là Bố cái Đại vương, v.v..

Upload

 

Nhà thờ tổ họ Phùng Tá - Ảnh: Q.C

Từ nhỏ, Phùng Tá Chu đã được giáo dưỡng cẩn thận để khi trưởng thành có thể “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tư tưởng Nho giáo Khổng Tử được thấm nhuần trong mọi thế hệ gia tộc ông cũng như tầng lớp quan lại phong kiến đương thời (trung quân), nhưng ông lại không trung quân mù quáng (ngu quân) mà tiếp thu được nếp tân tiến của các vị tiền bối dòng họ luôn yêu nước, thương dân chống chế độ áp bức lỗi thời, tôn lập nhà nước tiến bộ. Ông có tài về thi thư và binh pháp nên tuổi trẻ đã được cất nhắc làm quan và thăng tiến nhanh chóng trong chốn quan trường triều Lý. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, dưới thời nhà Lý, ông đã từng được phong chức tới Thái phó (giữ vệ binh, vào hàng tam công, là trọng thần của nhà vua): “Gia phong Thái phó triều Lý là Phùng Tá Chu làm Hưng Nhân vương”(1). Khi nhà Lý suy yếu, ông cùng các trí thức trọng thần âm mưu phế truất nhà Lý lập nên nhà Trần. Việc Phùng Tá Chu tích cực phù lập nhà Trần dưới con mắt trung quân của sử gia Ngô Sĩ Liên là sự phản trắc, là có tội với triều Lý: “Các quan bấy giờ không ai nghĩ gì đến xã tắc, để cho Phùng Tá Chu viện dẫn việc Lữ Hậu và Vũ Hậu làm cớ mà thành ra việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho họ Trần, ấy là người có tội với họ Lý”(2).

Vậy! Phùng Tá Chu là người có công hay có tội với đất nước?

Qua sử sách ghi chép lại và đánh giá về triều Lý thời suy thoái chúng ta mới thấy được công to lớn đối với đất nước của Phùng Tá Chu trong việc phế bỏ nhà Lý và lập nên nhà Trần.

Sau khi đánh thắng quân Tống, nhà Lý đã phát huy vai trò tích cực xây dựng đất nước phồn thịnh. Nhưng sống trong thời bình, nhất là quan lại triều đình lại lo hưởng thụ, sống xa hoa, bóc lột nhân dân ngày càng nặng nề “Từ khoảng giữa thế kỷ XII, triều Lý bắt đầu thoái hóa và lao nhanh vào con đường suy vong. Vua và quý tộc, quan lại chỉ lo vơ vét của dân, ăn chơi rất sa đọa”. Lúc đó, chính sự triều đình rối loạn. Vua Lý Cao Tông (1175-1210) lo ăn chơi vô độ. Các quan lại cao cấp như Phụ chính Đỗ Anh Vũ, Đỗ Yên Di… khét tiếng là người tàn bạo. Thái bảo Đàm Dĩ Mông bị nhân dân kết án là “mọt nước, hại dân”… Sách Lịch sử Việt Nam (T.1), nhận xét: “Nông dân công xã bị bọn quan lại đục khoét, lại phải đóng tô thuế nặng nề và quanh năm lao dịch vất vả. Trong lúc đó, chính quyền không chăm lo bồi dưỡng sức dân, không quan tâm xây dựng thủy lợi và phát triển kinh tế. Các nạn hạn lụt, mất mùa xẩy ra luôn năm. Đời sống của nhân dân bị đe dọa nghiêm trọng. Nhiều năm đói to. Riêng nạn đói năm 1181, số người chết đói có nơi lên đến gần một nửa số dân. Nhiều nông dân phải bỏ quê hương, xóm làng trốn đi các nơi để tránh tô thuế và lao dịch.

Lòng căm hờn của nhân dân ngày càng bốc cao. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền xuôi và miền núi lần lượt bùng nổ, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Thân Lợi, Lê Văn và Phí Lãng”(3).

Các cuộc khởi nghĩa chống triều đình bị đàn áp, thất bại, nhưng đã làm lay chuyển toàn bộ nền thống trị của nhà Lý. Nạn cát cứ, trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIII, đất nước lâm vào cảnh loạn lạc do những cuộc chiến tranh phe phái đẫm máu diễn ra, như họ Trần ở Hải Ấp (Thái Bình), Đoàn Châu ở Hồng Châu (Hải Hưng), Nguyễn Nộn ở Bắc Giang (Hà Bắc)… Trong các phe phái đó, họ Trần có thế lực mạnh nhất và khống chế được cả chính quyền trung ương đang hấp hối, chiến thắng các thế lực cát cứ khác. Nhà Trần dần chiếm thế thượng phong, cùng với sự ủng hộ mạnh mẽ của các trí thức đại thần triều Lý, buộc triều Lý phải rời khỏi vũ đài chính trị (vào đầu năm 1226) để nhường chỗ cho một vương triều mới - triều Trần (1226-1400). Đấy là sự kiện vua Huệ Tông không có con trai, truyền ngôi cho con gái Chiêu Hoàng và nhà Lý mất mà Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) đã ghi: “Huệ Tông hoàng đế, tên húy là Sảm, con trưởng của Cao Tông, mẹ là hoàng hậu họ Đàm, sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194), năm Mậu Thìn, Trị Bình Long Ứng thứ 4 (1208), tháng giêng, sách lập Hoàng Thái tử. Cao Tông băng, bèn lên ngôi báu, ở ngôi 14 năm (1211-1224), truyền ngôi cho Chiêu Hoàng, sau bị Trần Thủ Độ giết, thọ 33 tuổi (1194-1226). Vua gặp buổi loạn lạc, giặc cướp tứ tung, mình bị bệnh nặng, không biết sớm cầu con nối, họ Lý bèn mất”(4).

Một trong những trí thức đại thần có công xây dựng thanh thế cho họ Trần để lật đổ triều Lý là Thái úy Phùng Tá Chu. Ông là người trực tiếp chỉ huy vệ binh đưa Trần Thị vào triều để vua Huệ Tông lập làm Nguyên phi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi:

Tân Mùi, Kiến Gia năm thứ 1 (1211). Mùa xuân, tháng giêng, đổi niên hiệu.

Tháng 2, vua lại sai Phụng ngự là Phạm Bố đi đón Trần Thị, Tự Khánh bèn sai bọn Phùng Tá Chu đưa Trần Thị đi. Gặp khi Tô Trung Từ và Đỗ Quảng đang đánh nhau ở [bến] Triều Đông, Tá Chu bèn đỗ thuyền ở bến Đại Thông. Đến khi Đỗ Quảng bị thua, vua sai Bố và Trung Từ đón Trần Thị vào cung, lập làm Nguyên phi(5).

Trần Thị được vua phong làm Hoàng hậu, Tự Khánh làm Thái úy phụ chính, cho anh Tự Khánh là Trần Thừa (tức Thượng hoàng nhà Trần) làm Nội thị phán thủ. Tự Khánh có điều kiện tổ chức quân ngũ, chế tạo binh khí, luyện tập võ nghệ… thế lực họ Trần ngày càng lớn mạnh. Trần Thủ Độ (1194-1264) có công cùng Trần Lý, Trần Thừa ra sức giúp Thái tử Sảm chống các cuộc khởi loạn, rồi lên ngôi (Lý Huệ Tông), nên được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, cai quản các đạo quân bảo vệ kinh thành. Khi Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Chiêu Thánh công chúa Lý Phật Kim (Lý Chiêu Hoàng), ông gây bức tử Huệ Tông ở chùa Chân Giáo, rồi ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Phùng Tá Chu và một số các quan lại trí thức khác nhận thấy Trần Thủ Độ tuy ít học, nhưng có mưu lược, lại trọng kẻ sĩ, có tính quyết đoán cao, có đường lối rõ rệt, tất yếu sẽ thực hiện thành công việc phế nhà Lý, lập nhà Trần nên đã tích cực ủng hộ Trần Thủ Độ và nhà Trần. Họ âm mưu sắp đặt nước cờ tinh vi thâm hậu, tiến hành từng bước thận trọng, chắc chắn để đi đến đảo chính trong hòa bình mà lại hợp đạo lý, hợp luật, không để một kẽ hở nào cho các thế lực thù địch có thể lấy lý do chống lại. Việc đưa Trần Cảnh vào chức quan Nội hầu để chăm sóc Lý Chiêu Hoàng dẫn đến bén lửa duyên tình của đôi trẻ và tất dẫn đến việc hôn nhân. Một việc làm có ý đồ sắp đặt trở thành như tự nhiên và hiển nhiên hợp tình, hợp lý. Bước tiếp theo cũng rất tự nhiên là vợ (Lý Chiêu Hoàng) nhường ngôi cho chồng (Trần Cảnh) trở thành một cuộc đảo chính thật mỹ mãn, không ai có thể đàn hặc trách cứ được và tránh được một cuộc chiến đổ nhiều xương máu mà lại khó an toàn. Âm mưu này có công rất lớn của Phùng Tá Chu mà như lời nhận xét của sử gia Ngô Sĩ Liên về ông: “Các quan bấy giờ không ai nghĩ gì đến xã tắc, để cho Phùng Tá Chu viện dẫn việc Lữ Hậu và Vũ Hậu làm cớ mà thành ra việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho họ Trần, ấy là người có tội với họ Lý”. Cuộc phế bỏ nhà Lý, lập nhà Trần là một cuộc lật đổ triều chính ngoạn mục nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Nhà Trần từ đây có điều kiện thuận lợi để thiết lập nhà nước độc quyền tự chủ và phát triển vững mạnh. Nhà Trần đã lấy được lòng dân, được toàn dân ủng hộ, nên đã tự tin đồng lòng kháng chiến 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông được coi là hiếu chiến và mạnh nhất thế giới lúc đó. Vương triều Trần đã ghi một dấu son kỳ tích chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc ta và đưa đất nước tiến lên một giai đoạn xã hội thịnh vượng bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Nhà Trần tin tưởng vào tài năng, đức độ của Phùng Tá Chu nên đã trao cho ông các trọng trách quan trọng, giúp triều đình tổ chức bảo vệ, xây dựng đất nước vững mạnh. Ngay sau khi Trần Cảnh lên ngôi vua, tức Thái Tông hoàng đế, niên hiệu Kiến Trung thứ 2 (1226), vào tháng 10 đã ban chức cho ông đến Phụ quốc Thái phó và cử ông làm Quyền Tri phủ Nghệ An với quyền hành rất lớn chỉ đứng sau vua để quản lý tốt vùng biên trấn phía Nam Đại Việt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Sai Phụ quốc Thái phó Phùng Tá Chu quyền Tri phủ Nghệ An, cho phép ban tước từ Tá chức, Xá nhân trở xuống cho người khác, rồi sau về chầu tâu lên”(6).

Phùng Tá Chu đã không phụ sự tin cậy của triều đình trong thời gian làm Tri phủ Nghệ An. Ông đã ra sức tổ chức bộ máy cai quản vững chắc phủ này vốn đã bị tàn phá của quân cát cứ nổi dậy làm phản cuối triều Lý như Phạm Du (1108)… Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Cho Phạm Du coi việc quân ở Nghệ An. Du bèn làm phản, thu nạp những kẻ vong mệnh và trộm cướp, gọi là “hậu nhân”, chia đi cướp bóc các nơi…”(7).

Rồi Chiêm Thành, Chân Lạp cũng liên tục đến cướp bóc, tàn phá châu Nghệ An các năm 1216 và 1218 (ĐVSKTT-Tr.337) làm cho làng xóm tiêu điều, mùa màng thất bát, dân chúng điêu đứng, kiệt quệ, chết đói, khổ sở trăm bề, các công trình dinh trại bị đập phá tan hoang, các quan “phụ mẫu” chỉ lo đục khoét, châu này trở thành miếng mồi ngon cho ngoại xâm dày xéo cướp bóc... Phùng Tá Chu lo tổ chức tốt bộ máy cai quản, chiêu dân trở lại khai khẩn đất hoang, làm thủy lợi, cấy lúa tích trữ lương thực, nông nghiệp dần được khôi phục, lập ra nhiều làng, trại mới, khắp nơi trong phủ được mùa, đời sống nhân dân ngày càng no ấm. Ông còn đề xuất với triều đình cho cử các hoàng thân quốc thích đưa dân từ ngoài Bắc vào Nghệ An lập ra các trang trại lớn ở Châu Hoan, Châu Diễn và hai bên bờ sông Lam, tiêu biểu như trại Nam Hoa (nay là các xã Nam Hoành, Nam Kim, Nam Lộc, Nam Tân, huyện Nam Đàn); trang Cần Cung (nay là các xã Nam Trung, Nam Cường, Nam Phúc, Đức Châu) ở phía hữu ngạn sông Lam, v.v. làm căn cứ tích trữ vũ khí, lương thực sẵn sàng phục vụ cho việc bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía Tây và Nam của nước Đại Việt. Các căn cứ đồn trại ở các điểm xung yếu cũng được tu bổ, xây dựng lại để canh giữ và chống kẻ thù xâm lược, tiêu biểu như thành Trà Lân (Con Cuông) ở miền Tây; thành Trài ở phủ Diễn Châu; như tấn Cửa Hội, tấn Cửa Lò (Cửa Xá) ở bờ biển Đông (nay thuộc thị xã Cửa Lò)… Ông cũng quan tâm việc sửa chữa tuyến đường bộ, đường thủy từ ngoài Bắc vào, tiêu biểu như đề xuất triều đình cho binh lính, dân công đào vét thông kênh nhà Lê đoạn từ Thanh Hóa vào đến Nam Diễn Châu… Sách Đại Việt sử kysý toàn thư cho biết: “Tân Mão, năm thứ 7 (1231), mùa xuân, tháng giêng, sai Nội minh tự Nguyễn Bang Cốc chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía Nam Diễn Châu. Việc xong, thăng Bang Cốc làm Phụ quốc thượng hầu”(8).

Phùng Tá Chu đã đóng góp quan trọng trong việc phục hồi lại phủ Nghệ An và xây dựng phủ này trở thành một vùng đất phồn thịnh, là một căn cứ lớn mạnh vùng biên viễn, đủ sức bảo vệ vững chắc biên cương và làm bàn đạp để phát triển đất nước về phía Nam. Chính vì thế mà đến năm 1233, triều đình sai Phùng Tá Chu cho duyệt định tổng thể toàn phủ Nghệ An để hoạch định chiến lược xây dựng đất nước về lâu dài cho nhà Trần. Sách ĐVSKTT chép: “Quý Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 2 (1233), sai Phùng Tá Chu duyệt định các ấp lớn phủ Nghệ An”(9).

Những công lao to lớn của Phùng Tá Chu được nhà Trần ghi nhận nên đã phong cho ông làm Hưng Nhân Vương (tạm hiểu như là người làm việc nhân nghĩa, hưng thịnh, được phong tới tước Vương - tước chỉ dành riêng cho hoàng thân, quốc thích, con cháu các vua Trần để trị nhậm một vùng đất) vào năm 1234(10). Tiếp hai năm sau ông lại được gia phong tới Đại vương (1236).

Phùng Tá Chu với những đóng góp to lớn trong việc phù lập triều đại mới và cho công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước thịnh giàu thời đầu nhà Trần thật xứng đáng là một danh nhân văn hóa - lịch sử của dân tộc. Ông cũng đóng góp quan trọng trong sự nghiệp hưng thịnh vùng đất xứ Nghệ, xứng đáng được đặt tên đường phố ở thành phố Vinh để tôn vinh. Ông cũng là tấm gương sáng cho con cháu họ Phùng ở xứ Nghệ cũng như cả nước học tập noi theo, đóng góp công sức trong công cuộc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.

 

Chú thích

(1), (6), (8), (9), (10). Đại Việt sử ký toàn thư. T.2.- H., KHXH, 1998.- Tr.10, Tr.13, Tr.14, Tr.15.

(2). (3), (4), (5), (7). Đại Việt sử ký toàn thư. T.1.- H., KHXH, 1998.- Tr.184, Tr. 333, Tr.335, Tr.338.

Đào Tam Tỉnh / khxhnvnghean.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 3


Hôm nayHôm nay : 1771

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 43224

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5711259