Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

ĐỀN TRINH UYỂN

Thứ sáu - 01/09/2017 15:34

Chữ “Trinh” có nghĩa là trong sáng, trinh bạch, nói về phẩm chất thanh cao, đạo đức tuyệt vời của đời người con gái. Còn “Uyển” có nghĩa là xinh đẹp, tốt tươi, dịu dàng, kể về nhan sắc, hành vi ứng xử của nàng.

Châu Phong ta có nhiều người con gái như thế, họ đều muốn một cuộc sống bình dị, yên lành. Nhưng "giặc đến nhà, đàn bà phải đánh", có nề hà gì chân yếu tay mềm. Những người con gái hồi đầu công nguyên đều có ý chí và tinh thần chiến đấu chống áp bức bạo tàn, thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, niềm căm hận bọn xâm lược sâu sắc. Họ vùng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, với tất cả sức mạnh độc lập, tự cường. Nghĩa chữ "Trinh Uyển" nhằm biểu đạt nội dung đó, đồng thời cũng thể hiện niềm tiếc thương, kính nhớ. Tại đâu, những "tiểu thư" giá đáng ngàn vàng như vậy phải hy sinh?

Mặc dầu mới 19, đôi mươi, các nữ tướng thời Hai Bà Trưng, vẫn được nhân dân ta trân trọng gọi là "Bà". Vì thế, đền Trinh Uyển ở Vĩnh Yên, tục gọi là "Đền Bà".

Đền làm theo hướng Tây - Đông, toạ lạc trên một khuôn viên rộng chừng 1 ha, nhìn ra Đầm Bạc. Cổng từ phía sau lưng vào, đi về bên tay trái. Bên kia đầm, nội thành Vĩnh Yên là Bệnh viện Đông y và khu Điều dưỡng. Thế kỷ 19, bên đền có hai bến đò nhỏ cho khách hành hương qua lại. Nhờ đó, cảnh quan càng thêm kỳ thú.

Đền Bà thuộc xã Vị Nội, tổng Hương Canh, huyện Yên Lãng, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây. Nay Vị Nội đổi là Thanh Trù, sáp nhập vào thành phố Vĩnh Yên.

Đền có 3 gian hậu cung, lợp hai tầng mái cong, nhưng đầu hồi lại xếp 3 tầng mái. Nhà Tiền tế có 5 gian, 24 cột. Mỗi cột tiết diện tới 40cm. Ba gian giữa nối với hậu cung. Hai gian bên đều thông xuống bên sườn hậu cung. Vách tả có chữ "Tôn", vách hữu có chữ "Nghiêm" qui vuông mỗi cạnh 80cm. Mặt bằng xây dựng thành hình bộ "Vi", lập nên một không gian khép kín.

Trước đến là một sân hẹp, nối tiếp ra bờ đầm có nhiều cây cối, đặc biệt là loại gù hương, sống tới mấy trăm năm, làm cảnh trí càng thêm u trầm, tĩnh lặng. Từ sân đền xuống tới đầm Bạc, phải qua 15 bậc gạch đá mới đến mặt nước.

Trong đền còn nhiều câu đối cổ. Điều thật đặc biệt và thật quý giá là tất cả các câu đối đều có phần lạc khoản, khắc rõ niên đại, họ tên, chức vị người cung tiến; giúp các nhà nghiên cứu văn hoá - lịch sử vững tâm tin tưởng vào sự chân thực của chứng tích.

Qua nội dung các câu đối ấy, đối chiếu với truyền thuyết và Ngọc phả, ta biết rằng đền Trinh Uyển thờ một nữ anh hùng 19 tuổi. Nàng là Phùng Vĩnh Hoa, ở trang Mao Điền, đạo Hồng Châu (Hải Dương), ngày ngày lo rèn luyện kiếm cung, khiến các bậc nam nhi khó bề sánh kịp. Vĩnh Hoa thường kêu gọi các bạn quần thoa cùng gắng sức, đợi dịp thi thố tài năng, giúp nước, cứu dân. Năm ấy, Vĩnh Hoa cùng cha mẹ lên phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây, huyện Yên Lạc, lập trang Tiên Nha, tục gọi là xóm Trại bên bờ Đầm Bạc. Nàng mở một ngôi quán nhỏ ven đường, làm nơi chiêu nạp các bậc anh thư, hào kiệt. Khi số lượng tuyển mộ lên tới ngàn người, nàng từ biệt cha mẹ, cùng mọi người xuống Mê Linh, ra mắt Hai Bà Trưng. Hai bà tiếp nhận, phong cho nàng làm "Nội thị tướng Quân, Vĩnh Hoa công chúa".

Sau ngày tuyên thệ ở cửa Sông Hát, Vĩnh Hoa, cùng với Đạm Nương, Hồng Nương, Thanh Nương, An Bình Lý ở Quất lưu, năm vị áp lang ở Thanh Lãng, tiến đánh Luy Lâu, thủ phủ của Thái Thú Tô Định - Bà Trần Thị Thuận người Nội Phật làm nội ứng, mở toang cổng thành. Quân Hai Bà Trưng tràn vào như vũ bão. Quân Đông Hán thây chất ngổn ngang. Quân ta làm chủ tình thế. Tô Định cởi giáp, vứt trốn về Nam Hải. Trên đà thắng lợi nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đều nổi dậy hưởng ứng. Hai Bà Trưng nhanh chóng giải phóng 65 thành quách, thiết lập Vương triều.

Đất nước trở lại thanh bình, Phùng Vĩnh Hoa về thăm Hồng Châu, rồi trở lại trang Tiên Nha, mở lễ yến, khao thưởng mọi người.

Ba năm sau, tướng Hán là Mã Viện kéo quân sang đánh Trưng Vương. Sau khi rút chạy từ Lãng Bạc về Cấm Khê, quân của Hai Bà Trưng phải cố thủ. Phùng Vĩnh Hoa bị cô lập ở trang Tiên Nha, đúng lúc bộ tướng của Mã Viện là Lưu Long dẫn quân bao vây. Một mình một ngựa, Phùng Vĩnh Hoa tả xung hữu đột cực kỳ anh dũng. Tên Lưu Long áp sát lấy nàng, đánh văng mất kiếm của Vĩnh Hoa. Nàng còn kịp cầm hòn đá ném trúng vào mặt tên tiểu tướng, phóng ngựa vượt lên. Tới sông Nguyệt Đức, phía trước thì giặc chặn đầu, phía sau thì giặc đuổi gấp, nàng bèn nhảy xuống sông Nguyệt Đức tử tiết. Thi thể được sóng to gió lớn đẩy trôi về đầm Bạc. Người Vị Nội vớt được thi hài, chôn cất tại địa phương, vào ngày 14-9 năm Quý Mão (43). Mộ nàng bị một con trâu điên, tục truyền là ma thuật của Lưu Long, tên tiểu tướng bị Phùng Vĩnh Hoa nện đá vỡ đầu, lấy sừng cày xới tung bành. Người sở tại bắt được trâu, dùng dáo mác đao kiếm mà đâm nó đến chết, để trả hận cho nàng; đồng thời dựng lên ngôi đền thờ nàng. Nay ở Thanh Trù vẫn còn lễ hội "Đâm Trâu". Tất cả người dự hội đều có thể xẻo thịt trâu, nướng ăn tại chỗ, để biểu hiện lòng căm thù bọn xâm lược Bắc phương và tỏ niềm xót xa tiếc nuối cho nàng.

Năm 982, Vua Lê Đại Hành phong cho nàng là:

"Vĩnh Hoa nương linh hiển nữ quốc Công chúa"

Năm sau lại phong:

"Hằng nga Uyển Mỵ, trinh thục phu nhân tôn thần"

Năm 1430, Vua Lê Thái Tổ phong cho nàng là:

"Đức hạnh đoan trang trinh tiết phu nhân"

Để nhắc lại khí phách hiên ngang, kiên cường bất khuất của Phùng Vĩnh Hoa và lên án bộ mặt man rợ ghê tởm của bọn giặc Lưu Long. Hắn đã dùng "thủ đoạn khoả thân" hòng làm nhục nàng. Nhưng đối lại, Phùng Vĩnh Hoa khi bị đánh văng mất kiếm, đã giật phăng yếm ra làm vải bọc đá, cứ thế ném đá vào mặt chúng, làm nhiều tên vỡ sọ mà chết. Cuối cùng "thân cô, lực kiệt", nàng phải tự trầm dưới sông Nguyệt Đức.

Năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), Vua Lê Thần Tông phong cho nàng là "Tế thế hộ quốc Đại Vương, Anh linh hiển ứng đại Vương". Năm 1852, Vua Tự Đức sắc phong cho nàng làm Thành hoàng làng Vị Nội, với danh hiệu "Bản cảnh thành hoàng Linh phù". Từ năm 1857 đến năm 1880, vua lại tiếp tục truy tặng cho nàng là "Hoằng hiệp thành hoàng linh phù". Năm 1891, Vua Đồng Khánh phong cho nàng là "Dực bảo trung hưng" đến niên hiệu Khải Định thứ hai 1917, vua phong cho nàng là "Trinh uyển Dực bảo trung hưng tôn thần". Do đó, "Đền Bà" mới có tên chữ "Trinh uyển Linh từ".

Như vậy, "Đền Bà" đã có từ thời Tiền Lê, cách đây 1.027 năm. Nhưng mãi tới ngày 17 tháng 5 năm Giáp Tý, niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924), theo chữ ghi ở thượng lương, đền Trinh Uyển mới được xây dựng trên quy mô hoành tráng, còn lại tới ngày nay.

Với lịch sử, cảnh quan và kiến trúc đậm đà phong cách Việt Nam, "Trinh uyển linh từ" xứng đáng là một di tích lịch sử - văn hoá của tỉnh ta và toàn quốc với giá trị đích thực có sẵn.

Lần lượt các câu đối trong đền như sau:

- ở gian giữa:

"Oanh liệt nhất tràng Trưng Triều hiển thánh

Huân cao vạn cổ Bạc Đàm linh từ"

Tạm hiểu là:

Ngang dọc một cõi chiến trường, hiển thánh Triều Trưng

Sáng ngời muôn thu soi bóng, đền thiêng Đầm Bạc.

Niên đại ghi rõ là "Bảo Đại mùa thu năm Canh Thìn (1940)"

Đôi câu đối thứ hai:

"Hội quyết thư hùng hiển thánh Trưng Triều lưu chính khí

Nguyên phân Kinh vị giáng thần Bạc Thuỷ mạt ân ba".

Tạm hiểu là:

Sống chết phen này, hiển thánh Triều Trưng còn chính khí

Nguồn chia Kinh vị, giáng thần nước Bạc vẫn xôn xao.

Phần lạc khoản đề rõ: Người tỉnh ta ở trung Nguyên, Đông Lỗ, Yên Lạc, thầy giáo làng là Nguyễn Hữu Đức kính dâng.

Đôi câu đối thứ ba:

"Nộ khí đảo sơn hà, anh phong vạn cổ

Tình trung quân nhật nguyệt, tiết nghĩa nhất môn".

Tạm hiểu là:

Cơn giận nghiêng non sông, dáng hùng muôn thuở

Niềm trung sáng đôi vầng, tiết nghĩa một nhà.

Lạc khoản ghi rõ. Người xã ta là Hội viên Phùng Văn Đỗ và quyền Chánh Tổng Nguyễn Lê, cung kính dâng.

Câu đối thứ tư:

"Địch khái kỳ tâm đồng Trưng phiến anh thư truyền thất tộ

Ninh dân kỳ lợi, phổ Bạc Đàm linh miếu lịch đa niên".

Tạm hiểu là:

Căm thù giặc, cùng vua Trưng nêu gương gái giỏi bẩy triều

Lợi yên dân, khắp Đầm Bạc, soi bóng miếu thiêng nhiều thuở.

Lạc khoản ghi rõ: Người xã ta, chức Tổng Khán thủ là Nguyễn Khắc Dương cùng Lý trưởng đương nhiệm là Phùng Hữu ích kính dâng.

Trên gian giữa treo bức Biển hiệu, chữ viết và nét khắc rất đẹp:

          "Trinh uyển Linh từ"

Nghĩa là:

          "Đền thiêng cô gái anh hùng"

Lạc khoản đề "Bảo Đại Mậu Dần, Trọng Đông cát nhật", nghĩa là: Ngày lành, tháng 11 mùa Đông, năm Mậu Dần (1924), niên hiệu Bảo Đại.

Hiểu rõ điều này, rõ ràng Vĩnh Phúc là trung tâm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng hồi đầu Công nguyên, thu hút hầu hết các bậc anh thư cân quắc Châu Phong, thuộc vùng Tam Giang, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Yên, Tam Dương. Và thành phố Vĩnh Yên của ta tự hào có một nữ anh hùng tiêu biểu và một ngôi đền sáng giá ngay bên bờ Đầm Bạc như thế!

 

Lê Quý Đôn

Nguồn tin: http://sovhttdl.vinhphuc.gov.vn/noidung/vung-dat-con-nguoi/Lists/ditichlichsuvanhoa/View_Detail.aspx?ItemID=35

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 21


Hôm nayHôm nay : 1866

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 43319

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5711354