Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

HỌ PHÙNG TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ (PHẦN 3)

Thứ hai - 26/03/2018 21:53

Tiến sĩ Phùng Thảo

 

...

BỘ TRƯỞNG

 

Bác sĩ Phùng Văn Cung.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1975).

 

Đại tướng Phùng Quang Thanh.

Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

 

Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Xuân Nhạ.

Sinh năm: 3/6/1963.

Quê quán: Thôn Hạ Cát, xã Tống Phan, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

Đảng viên: 19/12/1997.

Trình độ: Tiến sĩ kinh tế, Lý luận cao cấp, thạo tiếng Anh.

Năm 2016, công nhận Giáo sư.

Chức vụ: Tháng 9 năm 1995 đến tháng 1 năm 1997: Phó phòng hành chính - Đối ngoại, Trường Đại học KHXHNV.

Tháng 2 năm 1997 đến tháng 12 năm 2007: Phó giám đốc Trung tâm châu Á - Thái Bình Dương, Phó chủ nhiệm khoa Kinh tế.

Tháng 5 năm 2007 đến tháng 9 năm 2010: Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế.

Tháng 9 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011: Phó bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia.

Tháng 2 năm 2013: Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia.

Tháng 11 năm 2014, Chủ tịch HĐĐH Quốc gia Hà Nội;

Ngày 9 tháng 4 năm 2016, Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII phê chuẩn ông làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo.

Tháng 10 năm 2010, Đại hội khóa XI Đảng bộ thành phố Hà Nội đã bầu ông làm Ủy viên Thành ủy thành phố Hà Nội.

Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI (2011-2015) đã bầu ông làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 Đại hội Đảng toàn quốc khóa XII (2016-2020) đã bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

PHÓ TRƯỞNG BAN ĐẢNG, THỨ TRƯỞNG

PHÓ CHỦ NHIỆM QUỐC HỘI

 

Phùng Hữu Phú.

Sinh năm: 9/8/1948.

Quê quán: xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Đảng viên: Vào Đảng ngày 19/5/1979, chính thức 19/5/1980.

Trình độ: Năm 1983 bảo vệ luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Chủ nghĩa Cộng sản khoa học, đề tài: “Liên minh Công Nông trong cách mạng Việt Nam” tại Trường Đại học Tổng hợp quốc gia M.V.Lomonosov, Liên Xô nay là Liên bang Nga.

Năm 1997: Nhận danh hiệu Nhà giáo Ưu tú.

Năm 2001: Nhận danh hiệu Giáo sư.

Chức vụ:

+ Năm 1970, cán bộ giảng dạy bộ môn Lịch sử tại Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

+ Năm 1985-1990, Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

 + Năm 1990-1992, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

+ Năm 1992-1995, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

+ 1995-1999, Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bí thư Đảng ủy Đại họcuốc gia Hà Nội.

+ 1998-2001: Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng Ban Đại học thành ủy Hà Nội.

+ Năm 2000-2006, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Phó bí thư Thường trực thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Hà Nội.

+ Từ ngày 1 tháng 9 năm 2006 đến ngày 28 tháng 2 năm 2011: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương, Chủ tịch Hội đồng khoa học các ban Đảng Trung ương.

+ Từ ngày 28 tháng 3 năm 2011 đến nay, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, Chủ tich Hội đồng khoa học các ban Đảng Trung ương kiêm Chủ nhiệm khoa Khoa học Chính trị Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Tác phẩm:

+ 150 các sách, chuyên khảo, bài báo khoa học.

+ Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh (Đồng chủ biên), NXBCT QG, năm 1996.

+ Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam 1945-1969 (Chủ biên), NXB CTQG, năm 1997.

+ Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, và giá trị lịch sử, văn hóa phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 (Chủ biên), NXB CTQG, năm 2010.

+ Bí quyết thành công Hồ Chí Minh, NXB CTQG, năm 2010.

+ Văn hóa Sức mạnh nội sinh của sự phát triển (Đồng chủ biên), NXB CTQG, năm 2014.

+ 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam. (Đồng chủ biên), NXB CTQG, năm 2015.

+ Phát triển văn hóa sức mạnh nội sinh của dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. (Chủ biên) NXB CTQG, năm 2016.

+ Hà Nội 30 năm đổi mới và phát triển 1986-2016. (Đồng chủ biên), NXB VN, năm 2016.

- Khen thưởng:

+ Huân chương Độc lập hạng Nhất.

+ Huân chương Độc lập hạng Nhì.

+ Huân chương Lao động hạng Ba.

+ Huân chương Lao động hạng Nhì do Nhà nước dân chủ nhân dân Lào tặng.

 

Phùng Trần Hương.

Sinh năm: 21/4/1949.

Quê quán: phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trình độ: Tốt nghiệp Đại học tổng hợp Hà Nội.

Đảng viên: Vào Đảng: 15/12/1969. Chính thức: 15/12/ 1970.

Nhập ngũ: Tháng 6 năm 1967. Tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Chức vụ: Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, sau đó Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công hạng nhất.

+ Huân chương Lao động hạng nhất.

+ Huân chương Kháng chiến hạng nhì.

+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, và hạng Ba.

 

Phùng Ngọc Hùng.

Sinh năm: 29/12/1950.

Quê quán: phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Trình độ: Cử nhân văn khoa, tốt nghiệp Trường Đảng cao cấp Matxcova Liên Xô (nay là Liên Bang Nga).

Chức vụ: Phó chủ nhiệm UBDS - KHHGD, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Phùng Khắc Kế.

Sinh năm: 3/4/1948.

Quê quán: Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Trình độ: Tiến sĩ kinh tế tại Lêningrat, Liên Xô (nay là Liên Bang Nga).

Chức vụ: Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

 

Phùng Đức Tiến.

Sinh năm: 2/10/1964,

Trình độ: Tiến sĩ Nông nghiệp.

Quê quán: Tỉnh Bắc Ninh.

Chức vụ: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Công nghệ của Quốc hội, Chủ tịch Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Israen.

 

BÍ THƯ, CHỦ TỊCH HĐND, CHỦ TỊCH UBND CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

 

Phùng Lưu.

(Tên hoạt động cách mạng là Nguyễn Vạn)

Năm sinh: 19/8/1916.

Quê quán: Phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chức vụ: Thường vụ Khu ủy Khu Trị Thiên, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế 1964-1972.

Khen thưởng:

+ Huân chương Độc lập hạng Nhất.

+ Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Huân chương Giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

Ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế chính quyền địa phương đã đặt tên Phùng Lưu cho một con đường.

Ông mất: ngày 26/3/2005.

 

Phùng Hữu Phú.

Năm sinh: 9/8/1948

Chức vụ: Phó Bí thư Thường trực thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội 2001-2006.

 

Phùng Thanh Kiểm.

Năm sinh: 13/2/1958.

Quê quán: Xã Thiện Long, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Dân tộc: Nùng.

Trình độ: Đại học An ninh, Cử nhân Chính trị.

Đại tá Công an, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Lạng Sơn.

2007-2011: Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh.

Đại biểu Quốc hội khóa XII, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn:

2012-2016: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lạng Sơn.

 

Phùng Quang Hùng.

Năm sinh: 9/5/1955.

Quê quán: xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đảng viên: 1981.

Trình độ: Kỹ sư Kinh tế Nông nghiệp, Thạc sĩ Quản lý kinh tế.

Chức vụ:

+ 1988-1991: Phó bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phú.

+ 1992-1996: Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch UBND huyện Tam Dương, Phó bí thư Thường trực, Bí thư huyện ủy huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ 1997-2001: Ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

+ 2001-2005: Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phú.

+ 2005- 2010: Ủy viên ban Thường vụ tỉnh ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

+ 2012-2016: Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại biểu Quốc hội khóa VIII, khóa IX.

Khen thưởng:

+ Chiến sỹ thi đua toàn quốc.

+ Bằng khen Thủ tướng Chính phủ.

+ Huân chương Lao động hạng Nhì.

+ Huân chương Lao động hạng Ba.

 

CẤP TƯỚNG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

 

1- Đại tướng Phùng Quang Thanh.

- Năm sinh: 2 tháng 2 năm 1949, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Thân phụ ông là cụ Phùng Quang Sức, Liệt sĩ, cụ tham gia hoạt động cách mạng rất sớm, chiến đấu anh dũng, đã hy sinh năm 1950 tại bốt Mai Khện, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Quê quán: Xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phú (nay thuộc thành phố Hà Nội).

- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 1 tháng 6 năm 1968, chính thức ngày 1 tháng 6 năm 1969.

- Trình độ: Cao cấp quân sự.

- Chức vụ: Ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1967, tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị, Nam Lào trong chiến tranh Việt Nam chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc.

+ Năm 1971, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vì thành tích chiến đấu, lúc đang giữ chức vụ Trung đội trưởng thuộc Trung đoàn 64, Sư đoàn 320B. “Ngày 11 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh - Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 trực tiếp chỉ huy một tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên. Địch dùng một đại đội có máy bay yểm trợ, chia làm 2 mũi tấn công chốt. Phùng Quang Thanh chỉ huy Trung đội chờ địch vào gần mới nổ súng, diệt 38 tên, đẩy lùi địch ra xa, riêng Phùng Quang Thanh diệt 8 tên. Hai ngày sau, địch lại tấn công lên chốt, Phùng Quang Thanh bị thương, cấp trên cho lui về tuyến sau nhưng anh xin ở lại chiến đấu. Phùng Quang Thanh nhờ đồng đội tháo nắp 17 quả lựu đạn cho vào túi đeo quanh người, nhờ y tá băng và treo cánh tay cho đỡ vướng rồi dẫn đầu Trung đội xung phong đánh tạt sườn quân địch, phối hợp đơn vị bạn diệt gọn một đại đội địch. Riêng Trung đội do anh chỉ huy diệt 37 tên, bắt 1 tên, thu 2 súng”, anh là Thương binh hạng ¾, Thiếu úy năm 1971, Trung úy năm 1972, Thượng úy năm 1974, Đại úy năm 1976, Thiếu tá năm 1979, Trung tá năm 1981, Thượng tá năm 1987, Đại tá năm 1989.

+ Tháng 10 năm 1971 đến tháng 6 năm 1972, ông học tại Trường Sĩ quan Lục quân.

+ Tháng 7 năm 1972, trở lại chiến trường chiến đấu, giữ chức Tiểu đoàn phó, sau đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320A (nay là Sư đoàn 390).

+ Tháng 8 năm 1974, học tại Học viện Quân sự (nay là Học viện Lục quân Đà Lạt).

+ Từ năm 1977 đến năm 1989, ông lần lượt giữ các chức vụ từ cấp Trung đoàn đến Sư đoàn: Tháng 9 năm 1986 đến tháng 7 năm 1988, Đảng ủy viên, Phó bí thư Đảng ủy phụ trách Sư đoàn 390, sau đó là Đại tá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 390, Quân đoàn 1.

+ Tháng 8 năm 1988 đến tháng 2 năm 1989, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312.

+ Năm 1989, học tại Học viện Quân sự Voroshilov Liên Xô, sau đó về nước học tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng).

+ Từ tháng 8 năm 1991 đến tháng 8 năm 1993, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 lần thứ 2. Tiếp đó năm 1993 về Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu giữ chức Phó Cục trưởng; năm 1994 thăng quân hàm Thiếu tướng, năm 1995 giữ chức Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu.

+ Tháng 8 năm 1997 học Lý luận Chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị Quân sự.

+ Tháng 12 năm 1997, Tư lệnh Quân khu 1, năm 1999 thăng quân hàm Trung tướng.

+ Tháng 5 năm 2001 đến tháng 8 năm 2006, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, năm 2003 thăng quân hàm Thượng tướng.

+ Năm 2006 nhận chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

+ Ngày 6 tháng 7 năm 2007, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Minh Triết trao quân hàm Đại tướng Quân đội nhân dân.

+ Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa: IX, X, XI (2001-2016); Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa X và XI (2006-2016).

Thăng cấp tướng:

+ Thiếu tướng năm 1994.

+ Trung tướng năm 1999.

+ Thượng tướng năm 2003.

+ Đại tướng năm 2007.

- Khen thưởng:

+ Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân Giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20 tháng 9 năm 1971.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất.

+ Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba.

+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất.

+ Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

+ Huân chương Hữu nghị Liên Bang Nga do Tổng thống Nga Putin trao tặng;

+ Huân chương tự do hạng Nhất của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào;

+ Huân chương Hữu nghị hạng Nhất của Nhà nước Vươngquốc Campuchia.

 

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

(Ngày còn nhỏ, ông có tên Phùng Văn Thụ, trong hoạt động Cách mạng lấy tên Nghĩa)

Năm sinh: Tháng 2 năm 1920.

Quê quán: Ông là người xã Do Lễ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội). Khi nghỉ hưu, ông ở phòng số 11, lầu 12a, lốc b, chung cư An Khang, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1933, ông đến Vân Nam Trung Quốc làm ăn. Năm 1936 được giác ngộ Cách mạng, tham gia Hội Ái hữu, Hội Việt Nam hưởng ứng Trung Quốc kháng Nhật.

Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 6 năm 1939. Là cán bộ lão thành cách mạng, Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.

Tháng 8 năm 1942, ông về nước gây cơ sở Cách mạng ở tỉnh Cao Bằng.

Tháng 4 năm 1944, ông được giao nhiệm vụ đi Côn Minh - Trung Quốc vận chuyển vũ khí và bảo vệ Bác Hồ. Ông là cận vệ đầu tiên của Bác Hồ, được Bác đặt tên: Phùng Hữu Tài.

Chức vụ: Ông nhập ngũ tháng 12 năm 1944, tháng 4 năm 1945 làm Tiểu đội trưởng, phụ trách công tác quản lý quân ở Cao Bằng, cán bộ huấn luyện ở Thất Khê, phụ trách Tình báo ở Bộ Tổng tham mưu, năm 25 tuổi ông đã lãnh đạo chỉ huy cướp chính quyền ở huyện Thất Khê, rồi trở thành Phó Chủ tịch tỉnh Lạng Sơn.

Tháng 6 năm 1946: Làm Trung đoàn phó ở Nam Định, sau đó làm Trung đoàn trưởng ở Sơn La, Chỉ huy trưởng Liên khu II Hà Nội.

Năm 1947: Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 35 Hà Đông, Trung đoàn đoàn 66, Trung đoàn 48 Liên khu III.

Năm 1950: Là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội.

Năm 1951: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 52 - Sư đoàn 320. Năm 1952: Tham mưu trưởng Sư đoàn 320.

Năm 1953: Sư phó Sư đoàn 320.

Năm 1954: Sư trưởng Sư đoàn 349, Bộ tư lệnh 351.

Tháng 10 năm 1960: Hiệu trưởng Trường Pháo binh.

Tháng 2 năm 1961: Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 12 năm 1962: Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 11 năm 1963: Tư lệnh trưởng đầu tiên Quân chủng Phòng không - Không quân.

Tháng 6 năm 1967 đến tháng 8 năm 1987: Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã giữ chức vụ này suốt 20 năm đến khi nghỉ hưu năm 1987.

Trong thời gian công tác ở quân đội, ông đã được nhà nước giao nhiệm vụ: Kiêm Tổng Cục trưởng Hàng không dân dụng Việt Nam, kiêm Trưởng Ban Phòng chống bão lụt Trung ương.

Thời gian thăng hàm cấp tướng:

+ Tháng 4 năm 1974 Thiếu tướng.

+ Tháng 1 năm 1980 Trung tướng.

+ Tháng 1 năm 1986 Thượng tướng.

Khen thưởng:

+ Huân chương Hồ Chí Minh.

+ Huân chương Độc lập hạng Nhất.

+ Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba.

+ Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

+ 2 huy hiệu Bác Hồ.

+ Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Ông mất ngày 21/3/2014, hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông được Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức lễ tang theo nghi thức Nhà nước. An táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh.

Để bạn đọc có điều kiện hiểu đầy đủ, sâu sắc về Thượng tướng Phùng Thế Tài, vị tướng của trận mạc, đi suốt các cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, chiến thắng tất cả các kẻ thù, tác giả bài viết xin trân trọng giới thiệu bài viết của Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam cho cuốn sách “Hồi ký Thượng tướng Phùng Thế Tài trọn một đời theo Bác” của tác giả Thế Kỷ (NXBVH, 2014).

“Thượng tướng Phùng Thế Tài là một người cộng sản kiên trung, một vị tướng tài ba của quân đội ta.

Trọn một đời theo Đảng, theo Bác Hồ tham gia cách mạng và kháng chiến, Thượng tướng Phùng Thế Tài là một Đảng viên rất mực trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đồng chí là một người được rèn luyện trưởng thành từ chiến sĩ trở nên một vị tướng có tài của quân đội ta.

Đồng chí sống trung thực, thẳng thắn, thông minh, sáng tạo; hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Bác Hồ và Quân đội giao phó. Chiến công và thành tích của đồng chí trong quá trình cách mạng và kháng chiến đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

Đối với tôi, Thượng tướng Phùng Thế Tài là người đồng chí thân thiết. Tôi rất tin tưởng mỗi lần trao nhiệm vụ cho đồng chí”.

 

Trung tướng Phùng Khắc Đăng.

Bí danh: Phùng Thạch Sơn.

Sinh năm: 15/8/1945.

Dân tộc: Kinh.

Trình độ: Thạc sĩ Chính trị, Quân sự, Cao cấp Lý luận chính trị.

Quê quán: thôn Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội.

Trú quán: Phố Võng Thị, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

Vào Đảng: Ngày 11/11/1966. Chính thức ngày 11/8/1967.

 Quá trình công tác:

+ Tháng 9 năm 1963 đến tháng 5 năm 1965, tham gia Thanh niên xung phong, sau chuyển về nhà máy gỗ Sơn Tây.

+ Ngày 27 tháng 5 năm 1965, nhập ngũ vào Tiểu đoàn 97- Bộ Tư lệnh Pháo binh.

+ Ngày 20 tháng 10 năm 1965, vào chiến trường miền Nam, Binh nhất, chiến sĩ Tiểu đoàn 99 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

+ Từ năm 1966 đến năm 1968, Chuẩn úy, Trợ lý Tiểu đoàn 99, Chính trị viên phó Đại đội 10, Tiểu đoàn 99, Mặt trận 4 Quảng Đà.

+ Năm 1969, học viên Trường Quân chính Quân khu 5, ra trường cuối năm 1969 được phong quân hàm Trung úy.

+ Từ năm 1970 đến tháng 9 năm 1972, Trung úy, Chính trị viên Đại đội 11, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 575.

+ Từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 12 năm 1974, Trung úy, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 12, Sư đoàn 711, sau chuyển về Sư đoàn 2, Quân khu 5.

+ Từ 22 tháng 12 năm 1974, Thượng úy, Chính trị viên Tiểu đoàn 12, Trung đoàn 368, Sư đoàn 2, Quân khu 5, Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn.

+ Từ năm 1976 đến tháng 4 năm 1979, Đại úy, Chủ nhiệmChính trị Trung đoàn 368, Phó Chính ủy Trung đoàn 368.

+ Từ tháng 4 năm 1979 đến tháng 7 năm 1980, Thiếu tá, Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 2, Quân khu 5, Đảng ủy viên Phòng Chính trị sư đoàn.

+ Từ tháng 8 năm 1980 đến tháng 12 năm 1986, Thiếu tá, Trung tá Học viên Học viện Chính trị - Quân sự, Bộ Quốc phòng; Từ năm 1986 đến tháng 9 năm 1988, Học viên cao học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, chuyên ngành xây dựng Đảng và Quản lý nhà nước.

+ Từ tháng 10 năm 1988 đến tháng 9 năm 1989, Đại tá, Phó chủ nhiệm Khoa công tác Đảng, công tác Chính trị, Học viện Chính trị - Quân sự, Bộ Quốc phòng (Trong thời gian này có 4 tháng học tại Viện hàn lâm Khoa học Xã hội (AON) Matxcova - Liên Xô.

+ Từ tháng 8 năm 1989, đến tháng 10 năm 1990, Đại tá, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Chính trị - Quân sự.

+ Tháng 10 năm 1990 đến tháng 10 năm 1993, Hiệu phó, Bí thư Đảng ủy Trường sĩ quan Chính trị - Quân sự.

Từ tháng 11 năm 1993 đến tháng 8 năm 1998, Đại tá, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Chính trị, Phó bí thư, Bí thư Đảng ủy Quân khu 1, Bộ Quốc phòng.

+ Tháng 8 năm 1998 đến tháng 3 năm 2006, Thiếu tướng, Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

+ Tháng 3 năm 2006, nghỉ hưu.

+ Tháng 10 năm 2007, Công tác tại Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam khóa 4 và 5 (2007-2016).

+ Bí thư Đảng ủy Cơ quan Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

+ Thành viên nhóm đối thoại Việt - Mỹ về chất độc da cam đi-ô-xin.

+ Ủy viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

Đại biểu Quốc hội khóa XIII nhiệm kỳ 2011-2016, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.

Khen thưởng:

+ Hai Huân chương Độc lập hạng Ba.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Hai Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

+ Huân chương Kháng chiến hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Cuộc đời binh nghiệp của Trung tướng Phùng Khắc Đăng kéo dài 40 năm, từ người lính Binh nhì đến Trung tướng. Năm 1965 hành quân đi B, vượt sông Bến Hải, con sông đã có thời “là nơi chia cắt hai miền Nam - Bắc” để vào cửa ngõ của chiến trường ác liệt miền Nam. Ông đã tham gia nhiều chiến dịch như: Chiến dịch Xuân 1968, 1972, giải phóng thị xã Tam Kỳ, chiến dịch giải phóng thành phố Đà Nẵng, chiến dịch giải phóng Campuchia, với hàng trăm trận đánh lớn, nhỏ ở nhiều mặt trận ác liệt, đọ sức trên chiến trường miền Nam với giặc Mỹ xâm lược và Ngụy quyền tay sai kéo dài liên tục suốt 11 năm, sau đó 4 năm liên tục bám trụ chiến đấu trên chiến trường Campuchia, giúp đồng bào Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng “Khơ-me-đỏ” tàn bạo, tổng cộng 14 năm liên tục có mặt trên chiến trường hai nước Việt Nam - Campuchia đầy hiểm nguy, mà cuộc sống và chiến trận thường xuyên gắn với đói khát, bệnh tật và chết chóc, trên đường hành quân tới mặt trận đánh thắng quân thù, nhận tin bố mất (mẹ đã mất sớm) đau xót quặn lòng, nhưng nén đau thương và vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, mọi nhiệm vụ được giao trên các chiến trường, ở bất cứ cương vị nào ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến tranh kết thúc, hòa bình, ông lại nhận nhiệm vụ mới với khó khăn, phức tạp mới, đó là nhiệm vụ trên mặt trận Tư tưởng - Văn hóa của toàn quân, với nhiệm vụ là Giảng viên, tổ trưởng Bộ môn, Phó khoa Công tác Đảng, công tác Chính trị nhà trường, Chủ nhiệm Chính trị, Phó hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy nhà trường, rồi lên Phó Tư lệnh Chính trị, Phó bí thư, Bí thư Đảng ủy Quân khu I, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã phát huy và vận dụng tốt những kinh nghiệm chỉ đạo các cuộc chiến đấu trên các chiến trường trước đây, kiến thức học tập ở nhà trường và kiến thức, kinh nghiệm học cả ở đời thường, hoàn thành tốt nhiệm vụ của người chiến sĩ - người cán bộ chính trị của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 3 năm 2006, ông nghỉ hưu theo qui định của Quân đội, nhưng Đảng, Nhà nước vẫn giao nhiệm vụ cho ông, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam và ông được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa XIII nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Phát huy phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ, Trung tướng Phùng Khắc Đăng không ngại khó nhăn, gian khổ, ông đã đem hết sức mình, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm tích lũy của hơn 40 năm trận mạc, và truyền thống văn hóa đẹp của người con thôn Bùng hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng và nhân dân giao phó.

Về với đời thường, ông đã cùng với anh em yêu mến cái tên “Phùng”, thành lập ra “Ban Liên lạc họ Phùng Việt Nam” do ông làm Trưởng Ban, nhiệm vụ của “Ban này, như mọi người thường nói vui vẻ là ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”. Trải qua gần 10 năm hoạt động, “Ban Liên lạc họ Phùng Việt Nam” đã làm được nhiều việc, được dòng họ Phùng toàn quốc và xã hội ghi nhận, chính ở đây trên cương vị là người chỉ huy cao nhất, Trung tướng Phùng Khắc Đăng lại một lần nữa đã đóng góp nhiều công lao cho sự hiểu biết, tình đoàn kết, tình nhân ái, sự giúp đùm bọc lẫn nhau giữa những người con trong dòng họ Phùng Việt Nam với sự nghiệp giáo dục và xây dựng cuộc sống tốt lành.

 

Thiếu tướng Phùng Sĩ Tấn.

Năm sinh: 25/8/1966.

Quê quán: Phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 24/3/1989.

Chức vụ: Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu II.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc.

+ Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

 

Thiếu tướng Phùng Quang Bích.

Sinh năm: 16/8/1922. Thân phụ: Cụ ông Phùng Văn Được, thân mẫu cụ bà Nguyễn Thị Thắng. Ông là con trai thứ hai trong gia đình có 9 chị em. Khi còn công tác, tổ chức làm hồ sơ của ông đã ghi là Nguyễn Quang Bích, ông nghĩ rằng, họ Nguyễn là họ mẹ của mình, nên ông Nguyễn Quang Bích đã không đề nghị tổ chức sửa lại theo họ bố, và từ đó đồng chí có tên là Nguyễn Quang Bích([1]).

Quê quán: Phường Thọ Lão, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tham gia cách mạng: 20/8/1945.

Vào Đảng năm 1947.

Chức vụ: Trưởng thành từ chiến sĩ - lên Tiểu đội phó, Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, Trung đội trưởng, Đại đội phó, Đại đội trưởng giải phóng quân Hà Nội.

+ Tháng 3 năm 1946, giữ chức Chi đội phó Chi đội Kon Tum Liên khu 5.

+ Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông giữ các chức vụ: Tháng 12 năm 1946, là Trung đoàn phó Trung đoàn 95 liên khu 5; Năm 1947 là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 50, Trung đoàn 120 Liên khu 5; Năm 1948: Trung đoàn phó Trung đoàn 108 Quảng Nam - Đà Nẵng; Năm 1952: Tham mưu phó Mặt trận miền Tây; Năm 1947: Trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 367 thuộc Đại đoàn pháo binh 351; Năm 1953: Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên cương vị Chỉ huy trưởng pháo cao xạ; Tháng 10 năm 1954: Trung đoàn trưởng rồi Tham mưu phó Đại đoàn pháo cao xạ Bộ Tư lệnh pháo binh.

+ Năm 1956 học pháo cao xạ ở Trung Quốc.

+ Tháng 10 năm 1956 (hoặc năm 1960) Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Phòng không.

+ Trong kháng chiến chống Mỹ phụ trách chỉ huy pháo binh (pháo binh cao xạ Nam Bộ). Chủ nhiệm phòng không miền Nam, Thường vụ Đảng ủy pháo binh miền Nam.

+ Năm 1963: Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không- Không quân.

+ Tháng 12 năm 1966, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Phòng khôngHà Nội (Sư trưởng Sư đoàn 361 PK-KQ).

 + Tháng 8 năm 1970, Phó Tư lệnh Đoàn 559, Phụ trách phòng không Trường Sơn (Sư trưởng sư 337 bảo vệ giao thông Khu 4).

 + Tháng 9 năm 1972, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Đảng ủy viên Quân chủng, trực tiếp chỉ huy trận đánh đầu tiên của Quân chủng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

 + Tháng 10 năm 1973, Trưởng đoàn nghiên cứu các chiến trường miền Nam.

+ Tháng 8 năm 1974, Học Cao đẳng Phòng không ở Ô-Đéc-Xa, Liên Xô.

 + Tháng 7 năm 1975, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

+ Tháng 6 năm 1977, Trưởng khoa Chỉ huy Học viện Quân sự cấp cao.

 + Năm 1979, Phân viện phó Phân viện Nghiên cứu chiến lược Học viện Quân sự cao cấp.

+ Tháng 9 năm 1983, Chủ nhiệm khoa Quân chủng (Khoa chỉ huy tham mưu) Học viện Quân sự cấp cao.

+ Tháng 12 năm 1982, Thăng quân hàm Thiếu tướng.

Khen thưởng:

+ Ngày 9/10/2014, Chủ tịch nước đã ký Quyết định truy tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lực vũ trang nhân dân.

+ Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến thắng chống Pháp hạng Nhất.

+ Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

+ Huân chương Giải phóng hạng Ba.

+ Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

 + Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng.

Ông nghỉ hưu năm 1991.

Ông mất ngày 17 tháng 7 năm 2010.

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm.

(Tên hoạt động Cách mạng Khăm Tằn, Ba Cung)

Sinh năm: 1929.

Quê quán: Xã Vạn Định (Dương Liễu, thị trấn Bình Dương),huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Nghỉ hưu tại 52 cư xá Tự Do, phường 7, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh; Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.

Tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945: Giành chính quyền ở Phù Mỹ, tham gia quân đội chiến đấu liên tục ở chiến trường khu 5, tham gia Đoàn B90 mở đường Hồ Chí Minh từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia. Ông đã cà răng, đóng khố, cùng sống và làm việc với đồng bào thiểu số. Biết nói đọc tiến Mnông, Khme.

Chức vụ:

+ Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Tư lệnhĐoàn Chuyên gia mặt trận Campuchia.

 Để bạn đọc hiểu đầy đủ về vị Thiếu tướng trận mạc Phùng Đình Ấm, tác giả trân trọng giới thiệu lời giới thiệu viết cho cuốn sách “Ba lần gắn bó với đất nước Chùa Tháp” của ông Lê Khả Phiêu, Nguyên Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN, Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:

“Đồng chí Thiếu tướng Phùng Đình Ấm tham gia quân đội từ năm 1947, khi đồng chí 18 tuổi và liên tục 50 năm ở các chiến trường Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Lào và Campuchia.

Trải qua thử thách qua khói lửa, đồng chí đã tỏ rõ là một cán bộ, đảng viên kiên định, vững vàng, liêm khiết, giản dị, tận tâm, tận lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, trong đó có 19 năm là chiến sĩ tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam ở Campuchia, đặc biệt là thời kỳ giúp ban những năm 1978-1981. Để giúp bạn tốt, phải hiểu rõ nhân dân bạn, hiểu rõ truyền thống của dân tộc Campuchia. Muốn vậy phải học tiếng, học chữ nước bạn. Đồng chí đã kiên trì, bền bỉ và chỉ trong thời gian ngắn đồng chí đã thông thạo cả nói và chữ Campuchia, viết và dịch các văn bản từ chữ Campuchia sang chữ Việt Nam rất chuẩn xác, cố gắng tự học và sớm biết tiếng, biết chữ Khơme đã tạo thêm sự thuận lợi khi phối hợp cùng bạn chiến đấu và công tác. Đồng chí đã giành được tình cảm chân thành của nhà nước và nhân dân Campuchia. Đồng chí đã góp phần quan trọng cùng tình nguyện quân và chuyên gia Việt Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, giúp bạn chống diệt chủng, hồi sinh đất nước, vun đắp tình đoàn kết,hữu nghị láng giềng Việt Nam - Campuchia sang trang sử mới”.

Tác phẩm:

+ Người đi thắp lửa quê hương.

+ Cơn lốc giữa núi rừng Mnông NXB QĐND năm 1995.

+ Kông và Keng (truyện thần thoại M Nông) NXB Trẻ năm 1995.

+ Thơ chiến sĩ (nhiều tác giả) NXB Quân giải phóng 1973 - 1974.

+ Thời áo lính (Nhiều tác giả) NXB Trẻ năm 1997.

+ Sài Gòn dưới những tầng khói (Nhiều tác giả) NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí minh 1998.

+ Một thời để nhớ NXB QĐND năm 2002, tái bản 2007.

+ Chúng tôi đánh giặc và làm thơ (nhiều tác giả) NXB Thanh niên 1998.

+ Miền Nam nhớ mãi ơn Người - Bảo tàng Hồ Chí Minh 2002.

+ Bộ đội Cụ Hồ với nhiệm vụ quốc tế cao cả (nhiều tác giả)cục Tư tưởng Văn hóa - TCCT.

+ Nghĩa nặng tình sâu (nhiều tác giả) NXBQĐND 2004.

+ Nhớ Nam Nung (Thơ) NXB QĐND 2005.

+ Người đi thắp sáng quê hương (truyện ký) NXB CAND.

 + Mở đường Hồ Chí Minh đoạn từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ.

+ Mặt trận 479 trên đất nước Ăngkor.

+ Lịch sử Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ.

+ Ba lần gắn bó với đất nước Chùa Tháp NXB CAND năm 2009.

Ông mất 2 giờ ngày 26/2/2011, thọ 83 tuổi.   

 

Thiếu tướng Phùng Bá Thường.

- Sinh năm: 1924.

- Quê quán: Phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Hiện nay ở số nhà 172, phố Lê Trọng Tấn, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 10/4/1948.

- Chức vụ: Tham gia hoạt động cách mạng tháng 2 năm 1946, ra nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trưởng thành: Từ chiến sĩ, Tiểu đội trưởng, Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng.

+ Trung đoàn trưởng các Trung đoàn: Trung đoàn 9 thuộc sư đoàn 304 hoạt động vùng sau lưng địch ở miền Bắc đánh giặc Pháp.

+ Trung đoàn 66 thuộc sư đoàn 304 hoạt động trên mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Lào.

+ Trung đoàn 24 trên mặt trận Tây Nguyên đánh Mỹ.

 + Sư đoàn trưởng sư 10 bảo vệ biên giới Tây Ninh - Tây Nam Bộ.

+ Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân đoàn 14 trấn giữ biên giới tỉnh Lạng Sơn.

+ Hiệu trưởng đầu tiên Trường Sĩ quan Hậu cần từ năm 1980 đến năm 1990 nghỉ hưu.

Để bạn đọc hiểu đầy đủ về vị thiếu tướng trận mạc Phùng Bá Thường, tác giả trân trọng giới thiệu lời tâm sự của ông trong cuốn sách “Cuộc đời và trận mạc([2])”: “… chập chững vào quân ngũ, những trận chiến đấu ác liệt ở Nga Sơn - Thanh Hóa, Phát Diệm - Ninh Bình, trên đường số 6 Hòa Bình, và làm nhiệm vụ bảo vệ sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, Mường Phăng… trong cuộc kháng chiến chống Pháp; rồi những cuộc hành binh sang Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giúp bạn Lào; những ngày vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, có vinh quang của những trận đánh thắng ở Tu-mơ-rông, căn cứ Ka Te, căn cứ Ngọc Rinh Rua, tập đoàn cứ điểm Đắc Tô - Tân Cảnh, những trận đánh giải tỏa, diệt chiến dịch địch ở Ngọc Bay ngay vùng ven thị xã Kon Tum… Và có cả cơ cực, cay đắng khi đánh vào thị xã Kon Tum tết Mậu Thân năm 1968, rồi khí thế hừng hực của những đoàn quân tiến vào Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra tôi lại cùng các đồng đội lên đường chiến đấu bảo vệ chủ quyền biên giới của Tổ quốc. Những chiến dịch A8, D7, A28,… đã giáng cho kẻ thù những đòn sấm sét, buộc chúng phải lùi về phí bên kia biên giới. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, tôi được điều lên trấn giữ biên giới tỉnh Lạng Sơn.

Chiến tranh kết thúc, tôi trở về Trường Sĩ quan Hậu cần, bằng kinh nghiệm từng trải của mình, tôi cùng tập thể Đảng ủy và Ban giám hiệu từng bước xây dựng nhà trường từ không đến có, từng bước trưởng thành vững mạnh”.

- Khen thưởng:

+ Huân chương Độc lập hạng Nhì.

+ Huân chương Quân công hạng Nhất.

+ 5 huân chương Chiến công các loại.

+ Nhà nước Campuchia tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì.

Thiếu tướng Phùng Truyền.

Sinh năm: 3/8/1944.

Quê quán: xã Chí Đám, Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam 1964.

Chức vụ: Thiếu tướng, Phó tư lệnh Chính trị Binh chủng Đặc công.

Khen thưởng:

+ Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Chiến sỹ hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

 

Thiếu tướng Phùng Thế Quảng.

Sinh năm: 1/8/1953.

Quê quán: xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, Tp. Hà Nội.

Chức vụ: Thiếu tướng (31/12/2007), Cục trưởng Cục Kinhtế, Phó Giám đốc Viện Khoa học công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng, Phó Tư lệnh Quân khu 7.

Khen thưởng:

+ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Nhì.

+ Huân chương Quân kỳ quyết thắng.

+ Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huân chương Chống Mỹ hạng Nhất.

+ Bốn Huân chương Nhà nước Cam puchia tặng.

 

Thiếu tướng Phùng Đình Thảo.

Sinh năm: 3/8/1954.

Quê quán: thôn Bác Kim, xã Phú Kim, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

Trú quán: Số nhà 26, phố Tản Đà, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Tham gia hoạt động cách mạng năm 1972.

Nhập ngũ ngày 2-1-1972.

Vào Đảng 28-1-1974, Chính thức 28-1-1975.

Chức vụ:

+ Từ ngày 18-6-1979: Chính trị viên Đại đội 21 - Trinh sát Trung đoàn 742 - Tỉnh đội Tây Ninh, Quân khu 7.

+ Từ ngày 5 - 8 - 1983: Trưởng ban Tổ chức Đoàn 7702 - Mặt trận 779, Quân khu 9.

+ Từ ngày 30 - 7 - 1991: Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị,Ban Chỉ huy Quân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

+ Từ ngày 19 - 9 - 2002: Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hà Tây, Quân khu Thủ Đô.

+ Từ ngày 16 - 9 - 2002: Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị Sư đoàn 301, Quân khu Thủ đô.

Từ ngày 8 - 2 - 2007: Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô.

+ Từ ngày 28 - 7 - 2008: Chính ủy Bộ Tư lệnh Thủ đô.

+ Từ ngày 21 - 7 - 2009: Phó Cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Khen thưởng:

+ Hai Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến công hạng Nhì.

+ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất.

+ Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất của nước Cộng hòa nhân dân Campuchia.

+ Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.

+ Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

+ Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

 

Thiếu tướng Phùng Căn.

Năm sinh: 25/4/1931

Quê quán: Xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Trình độ: Phó Giáo sư, năm 1957 học tại Trường Quân sự Prunze Liên Xô, cao cấp lý luận.

Vào Đảng ngày 5/11/1949, làm liên lạc đại đội bảo vệ Phủ Chủ tịch.

Thụ phong Thiếu tướng năm 1994. Ngày 24 tháng 2 năm 1995, Giám đốc Học viện Quốc phòng ra quyết định bổ nhiệm Quyền Trưởng khoa chiến thuật Học viện Quốc phòng.

Khen thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Huân chương Quân công hạng Nhì.

Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba, và nhiều phần thưởng cao quý khác.

 

Thiếu tướng Phùng Văn Thiết.

Năm sinh: 5/5/1958.

Quê quán: Xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

Đảng viên: 20 - 12 - 1979.

Chức vụ: Thiếu tướng, Phó hiệu trưởng Trường Sỹ quan Chính trị QĐND Việt Nam.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

 

Thiếu tướng Phùng Ngọc Sơn.

Năm sinh: 22/6/1968.

Quê quán: Phường Lê Lợi, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

Đảng: 29/7/1988.

Chức vụ. Thiếu tướng, Tư lệnh Binh chủng Công binh.

Khen thưởng:

+ Huân chương Quân kỳ quyết thắng.

+ Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

 

Thiếu tướng Phùng Quốc Tuấn.

Quê quán: Bắc Kạn

Chức vụ: Thiếu tướng - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng.

 

Thiếu tướng Phùng Tiến Bộ.

Năm sinh: 28/8/1953.

Quê quán: Xã Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chức vụ: Ủy viên Ban thường vụ, Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Thụ phong Thiếu tướng công an năm 2011.

Khen thưởng:

+ Hai Huân chương Chiến công hạng Nhất.

+ Hai Huân chương Chiến công hạng Nhì.

+ Bốn Huân chương Chiến công hạng Ba.

+ Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì và nhiều phần thưởng cao quí khác. 

 

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

 NHÂN DÂN, ANH HÙNG LAO ĐỘNG

 

THỜI KỲ 1945-1954

 

Phùng Văn Khầu.

Năm sinh: 1930.

Quê quán: Xã Đức Hùng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

Dân tộc: Nùng.

Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chức vụ: Tham gia hoạt động cách mạng năm 1946, tháng 12 năm 1949 tham gia 7 chiến dịch lớn, đánh hàng chục trận. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẩu đội pháo của Phùng Văn Khầu làm nhiệm vụ bắn phá đồi E. Trung đội trưởng pháo binh, Sư đoàn 351, tính chung trong thời gian phòng ngự ở đồi E với 1 khẩu sơn pháo 75 ly, Phùng Văn Khầu đã phá hủy 5 pháo 105 ly, 6 đại liên, 1 lô cốt, 1 kho đạn, diệt hàng trăm tên địch, chi viện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công hạng Nhì.

+ Hai huân chương chiến công hạng Ba.

+ 7 lần được Trung đoàn và Sư đoàn khen, 2 lần là chiến sỹ thi đua Sư đoàn.

+ Ngày 31 tháng 5 năm 1955, ông Phùng Văn Khầu được nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Phùng Thị Toại (Liệt sỹ).

Sinh năm: 1935.

Hy sinh ngày 12/7/1954.

- Dân tộc kinh.

- Quê quán: Xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam.

- 12 tuổi bà tự nguyện làm giao liên ở xã. 15 tuổi bà hăng hái tham gia vào đội du kích xã.

- Ngày 28/4/2000, Nhà nước đã truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

THỜI KỲ 1954-1975

 

Phùng Văn Bằng (Anh hùng lao động)

- Sinh năm 1938.

- Quê quán: Xã Tiền Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đảngviên Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ trưởng tổ gác đèn biển, Ty Bảo đảm Hàng hải, Bộ Giao thông Vận tải.

- Khen thưởng:

+ Huân chương Lao động hạng Nhất.

+ Bằng khen của Chủ tịch nước.

+ 3 năm liền là Chiến sỹ thi đua.

+ Chủ tịch nước đã ký Quyết định Tuyên dương Anh hùng Lao động ngày 3 tháng 5 năm 1962.

 

Phùng Văn Lưu.

Năm sinh: 1938.

Quê quán: xã Trung Hưng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.

Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20 tháng 10 năm 1976.

 

Phùng Quang Phong.

Năm sinh: 1950

Quê quán: xã Đông Thịnh, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

+ 21 Bằng và Giấy khen, 2 lần là Chiến sỹ thi đua.

+ Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệuAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 6 tháng 11 năm 1978.

Phùng Thị Tám.

Năm sinh: 1918.

Quê quán: xã Phú Hựu, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Khi phong Anh hùng, bà đang nghỉ hưu. Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20 tháng 12 năm 1994.

 

Phùng Tầu Cam(Anh hùng Lao động).

- Năm sinh: 1938.

- Quê quán: thị trấn Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh.

- Chức vụ: Trưởng truyền tải điện 4, Tổng công ty Điện lực Việt Nam.

+ Thành tích: Từ 1991 đến 1999, đường dây tăng 163%, công suất tăng 268%, tải 8,5 tỷ kW giờ phục vụ các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Hơn 10 năm, đội của Phùng Tầu Cam đảm bảo vận hành an toàn, không có sự cố xảy ra. Luôn có mặt trên khắp các công trường để chỉ huy điều hành. Có 18 sáng kiến, trong đó có 2 sáng kiến làm tăng doanh thu cho ngành 17 tỷ đồng. Ông là chủ nhiệm 2 đề tài nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, chiến sỹ thi đua 13 năm liền (1986-1999).

Ngày 28 tháng 4 năm 2000, ông Phùng Tầu Cam được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động.   

 

Phùng Hồng Lâm.

Năm sinh: 1930.

Quê quán: Tỉnh Quảng Bình.

Được Đảng, nhân dân, quân đội tin cậy giao cho những nhiệm vụ quan trọng hết sức nặng nề, vẻ vang trên trận tuyến thầm lặng, mặc dù hoạt động trên địa bàn khó khăn và nguy hiểm, ông Phùng Hồng Lâm vẫn giữ phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Ông Phùng Hồng Lâm là cán bộ có bản lĩnh, kinh nghiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Khen thưởng:

+  Huân chương Quân công hạng Ba.

+ 2 huân chương Chiến công hạng Nhất. Nhiều phần thưởng cao quý khác.

+ Ngày 13 tháng 12 năm 1989, ông Phùng Hồng Lâm được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khi được tuyên dương Anh hùng, ông là Đại tá, cục nghiên cứu Bộ Quốc phòng.

 

Phùng Hạnh Phúc.

- Năm sinh: 1936.

- Quê quán: xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây.

Khi được tuyên dương anh hùng, ông là Đảng viên, kỹ thuật viên phòng luyện kim, nhà máy Z111, Tổng cục kỹ thuật. ông có 54 sáng kiến có giá trị, 17 năm liền được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua, 4 năm chiến sỹ quyết thắng.

Ngày 29 tháng 8 năm 1985, ông Phùng Hạnh Phúc được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Phùng Văn Lừu.

Năm sinh: 1938.

Quê quán: xã Trung Hưng, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.

Khi được phong anh hùng, ông là Đảng viên, Thượng úy, trợ lý kỹ thuật xe ô tô, Trung đoàn 11, Sư đoàn 571, Bộ Tư lệnh 559.

Khen thưởng:

+ 4 Huân chương Chiến công hạng Ba.

+ 8 lần được bầu là chiến sỹ thi đua, 5 lần là chiến sỹ quyết thắng, được tặng 16 bằng khen và giấy khen.

+ Ngày 20 tháng 10 năm 1976, ông Phùng Văn Lừu được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Phùng Quang Thanh.

Năm sinh: Ngày 2/2/1949.

Quê quán: xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhập ngũ năm 1967. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba. 5 danh hiệu Dũng sỹ ưu tú và nhiều phần tử cao quí khác.

+ Ngày 20 tháng 9 năm 1971, ông Phùng Quang Thanh được nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Giải phóng miền Nam.

 

Phùng Văn Xinh.

Năm sinh: 1954.

Quê quán: xã Long Đức, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Khi hy sinh đồng chí là đảng viên, đại đội trưởng đại đội 1 bộ binh, tiểu đoàn 3, bộ đội địa phương tỉnh Sóc Trăng.

Khen thưởng:

+ Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.

+ Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

+ Hai lần được bầu là chiến sỹ thi đua, được tặng 10 bằng khen.

+ Ngày 15 tháng 1 năm 1976, ông Phùng Văn Xinh được nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Phùng Quang Bích.

(Tên hoạt động Cách mạng là Nguyễn Quang Bích)

Năm sinh: 16/8/1922;

Quê quán: Phường Thọ Lão, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945.

Đảm đương nhiều trọng trách trong quân đội nhân dân Việt Nam.

+ Trung đoàn phó, rồi Trung đoàn trưởng Pháo cao xạ 367.

+ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Phòng không.

+ Phụ trách chỉ huy Pháo binh ở Nam Bộ.

+ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361.

+ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 377.

+ Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh 559 Trường Sơn.

+ Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân.

Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, ông luôn sáng tạo, nghiêm khắc, quyết đoán, linh hoạt, dịu hiền trong vai trò là Chỉ huy trưởng lực lượng phòng không tại Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong 55 ngày đêm chiến đấu, Trung đoàn 367 đã bắn rơi 52 máy của giặc Pháp xâm lược, bắn bị thương 153 chiếc khác. Trong cuộc chống chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, ông đã đề xuất cách đánh cho tên lửa phòng không Việt Nam mà những người sản xuất ra tên lửa chưa hề nghĩ tới. Trong chiến dịch “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, Phùng Quang Bích là người trực tại Sở chỉ huy Quân chủng, ông đã trực tiếp chỉ huy trận mở màn, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của quân và dân Hà Nội.

Ngày 9 tháng 10 năm 2014, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã ký Quyết định số: 2557/QĐ-CTN truy tặng ông Phùng Quang Bích danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



[1]Theo lời kể của phu nhân đồng chí Phùng Quang Bích - bà Đinh Thị Kim Thoa.

[2]Cuộc đời và trận mạc, Thiếu tướng Phùng bá Thường, NXB QĐND, năm 2011.

...

(Còn tiếp)

Họ Phùng Việt Nam

Nguồn tin: www.hophungvietnam.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 4


Hôm nayHôm nay : 1113

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 37862

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5979905

Đặt Logo, Banner