Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

TIẾP TỤC GIỚI THIỆU CÁC THAM LUẬN CHỦ CHỐT TẠI HỘI THẢO "PHÙNG KHẮC KHOAN - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Thứ tư - 31/10/2012 15:58

 

 

PHÙNG KHẮC KHOAN VÀ THỜI CUỘC

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông thầy vô cùng tôn kính của Phùng Khắc Khoan đã viết:

Hoa càng đua nở hoa nên rữa

Nước chứa cho đầy nước ắt vơi

Kinh dịch cho thấy: hết thái lại đến bĩ, hết hưng lại đến suy… Đó là một quy luật mà đông tây kim cổ không triều đại nào có thể tránh khỏi. Dù trong đó có vương triều tự nhận mình là vĩnh viễn, là vô địch nhưng làm sao có thể vượt qua được quy luật?

Nhà Hậu Lê từ khi xuất hiện những ông vua quỷ (Uy Mục đế) vua lợn (Tương Dực đế) thì xuống dốc không phanh… để đưa đến nhà Mạc lên ngôi. Trước khi Phùng Khắc Khoan chào đời một năm, vào năm Đinh Hợi (1527) Lê Cung Hoàng và mẹ bị Mạc Đăng Dung giết. Từ đây đến khi nhà Mạc mất Thăng Long, chạy lên Cao Bằng (1592) là chiến tranh Nam - Bắc triều “Núi thây sông máu” nói như Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phùng Khắc Khoan mất năm 1613 khi Nguyễn Hoàng đường cát cứ phía Nam đất nước “Hoành Sơn nhất đái” cũng không còn. Nguyễn Hoàng trao ngôi chúa cho con thứ là Nguyễn Phúc Nguyên rồi đất nước bị chia đôi với “Trịnh - Nguyễn phân tranh”. Nhà Lê tuy gọi là “trung hưng” nhưng đã biến thành ông Phật bù nhìn để  cho: trước tiên là chúa Trịnh, sau nữa là chúa Nguyễn được ăn oản béo bở rồi sau đó là thời Lê với thuật ngữ: “Lê mạt” mâu thuẫn với thuật ngữ “trung hưng”. Các sự kiện đó diễn ra thâm thúy đúng quy luật nhưng mang màu sắc huyền bí tâm linh mà cả hai thầy trò Nguyễn Bỉnh Khiêm - Phùng Khắc Khoan đều tham gia vào cuộc. Truyền thuyết nói tới việc chúa Trịnh nhờ người (trong đó có Phùng Khắc Khoan) tới hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm; khi Lê Trung tông mất không có con nối dõi… Sau sự kiện thờ Phật đó, là sự kiện Hoành sơn, phải chăng đó là thầy trò Nguyễn Bỉnh Khiêm đạo diễn, có ảnh hưởng cực lớn đến thời cuộc?

Thầy trò Nguyễn - Phùng sống gần trọn thế kỷ (và có những năm tháng kê đầu thế kỷ nọ sang thế kỷ kia) nên càng có điều kiện chiêm nghiệm và có tác động đến thời cuộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy “ẩn” nhưng không hoàn toàn ẩn, không chỉ “bên đầm say hát nhởn nhơ chơi” mà vẫn luôn luôn đau đáu về thời cuộc, chiêm nghiệm, nắm vững thế thời để làm quân sư góp ý cho nhiều thế lực mà mục đích cuối cùng là để làm sao đỡ “núi xương sông máu” đưa đất nước đến bình trị. Còn vị quân sư trò Phùng Khắc Khoan rõ ràng là “nhập thế” tích cực hơn, sôi động hơn. Cả hai vị đều biết “minh triết bảo thân” theo cách riêng của mình. Ai cũng thấy: có sáng suốt giữ được thân mình thì mới có điều kiện làm lợi cho xã hội, hợp với thời cuộc. Trong cảnh “tổ quốc hưng vong”, hai vị đã “hữu trách”. Và sự hữu trách đó tỏ rõ hai vị đã xứng đáng với sự lựa chọn của thời cuộc. Và hai vị cũng phải biết lựa chọn thời cuộc, chọn người mà theo, chủ mà thờ: Mạc - Trịnh Lê hay Nguyễn?

Phùng Khắc Khoan vào đời khi nước Đại Việt chia hai: Mạc - Lê Trịnh từ Thanh Nghệ trở ra Bắc, rồi sau đó là một lực lượng thứ ba ở Thuận Hóa - Quảng Nam. Rõ ràng, ông đã phò Lê Trịnh diệt Mạc, sau đó có những góp ý cho Lê Trịnh đối đầu với Nguyễn. Con đường này thấy rõ. Nhưng diễn biến không phải đơn giản. Ngay từ đầu không hẳn Phùng Khắc Khoan đã dứt khoát theo Lê Trịnh, bởi vì ông đã thi đỗ Tam trường ở khu vực nhà Mạc để đợi tiếng gà gáy của ông thầy. Người thức thời như Phùng Khắc Khoan hẳn phải biết “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong” nên khó lòng mà nói thẳng phò Lê hay Trịnh dù vẫn biết họ Trịnh lợi dụng, thậm chí phế lập cho có lợi cho họ… Bên cạnh Phùng Khắc Khoan theo Lê Trịnh là Nguyễn Bỉnh Khiêm theo Mạc và Đào Duy Từ vượt biên theo Nguyễn. Đó là ba hướng đi tiêu biểu của sĩ phu Bắc Hà, để lại dấu ấn rất sâu đậm trong lịch sử Việt Nam thời loạn.

Ở các tác phẩm chính sử với sự can thiệp của giới cầm quyền, của chính thống thắng thế nước ta thì nhà Hồ ở đời Trần, nhà Mạc ở đời Lê bị các sử gia ăn cây nào rào cây ấy ghi là “Nhuận Hồ”, “Ngụy Mạc” và bị gạt sang phần phụ. Ngay nhà Tây Sơn có công chống ngoại xâm cũng bị kẻ “được làm vua” coi là ngụy. Đó là sự bảo thủ, bất công. Giáo sư Trần Lê Sáng cho rằng: “Thực ra, lịch sử phong kiến chứng minh rằng sự thay thế các triều đại là sự trỗi dậy của một thế lực mới thay thế cho một thế lực cũ đã hết vai trò lịch sử”. Ở điểm này là đúng với nhà Lý khi Lý thay Tiền Lê, đúng với Hồ khi Hồ thay Trần, đúng với Mạc Đăng Dung khi Mạc thay Hậu Lê. Những vương triều thay thế đó không có lỗi gì. Chỉ có một trường hợp chưa có tiền lệ là Lê Hoàn thay thế một vương triều đang đi lên. “Đại Việt sử ký toàn thư” đã nêu: “Vua nhân gian dâm trong cung mà được nước, về luân thường đạo vợ chồng có nhiều điều đáng thẹn”. Phải chăng vì công chống ngoại xâm hay vì vấn đề gì khác mà người ta không mấy nhắc tới tội trạng của Lê Hoàn?

Trở lại thời Phùng Khắc Khoan: Tình hình phức tạp trên làm ta thông cảm hơn tâm trạng những người chọn hướng ở thời cuộc ấy. Ở thời này nhà Mạc có hoàn toàn là ngụy đúng như các sử thần chính thống viết không?

Cố giáo sư Trần Quốc Vượng cho biết: “Từ thập kỷ 60, cố họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Viện trưởng Viện Mỹ thuật Việt Nam cùng tôi đã không nghĩ như vậy. Ông và các cộng tác viên đã phát hiện ra cả một nền mỹ thuật Mạc độc đáo, thể hiện ở đình chùa, đền, miếu… Không có một ngôi chùa, đều, danh lam nào ở miền Bắc mà không có bàn tay nhà Mạc, đời Mạc tu sửa. Mạc Ngọc Liễn tự coi là đạo sỹ và cùng vợ sửa các đền chùa. Mộ vợ Mạc Đăng Doanh, con gái Trần Trân đã trở thành “đất thánh” (bia bà) nổi tiếng ở Thanh Oai (Hà Tây nay). Gốm sứ Mạc có niên hiệu, tên người thợ chuốt, tên người đặt làm để cúng dâng cho chùa nào…”. “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn cho biết: “Năm 1532, Mạc Đăng Doanh thấy trong nước còn nhiều trộm cắp, bèn ra lệnh cấm nhân dân các xứ không được mang gươm giáo, dao nhọn và các đồ binh khí đi ngoài đường. Nếu kẻ nào trái lệnh, cho phép ty bắt trị tội. Từ đấy những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ. Trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn”.

Nhà Mạc từng có một thời dài đảm bảo an ninh trong khu vực thống trị của mình, nông - công - thương nghiệp tỏ rõ sự phát triển giáo dục thi cử cũng rất phát triển, sinh ra nhiều tiến sĩ, trạng nguyên thực học thực tài. Có một tiến sĩ nữ đầu tiên và duy nhất ở nước ta thời phong kiến là Nguyễn Thị Duệ. Ở quê hương mình, nhà Mạc cho xây dựng Dương kinh gắn liền với sông, biển, mở ra sự buôn bán với nước ngoài, góp phần làm gốm sứ Mạc phổ biến ở Đông Nam Á. Ở thời này:

Quán hàng mọc khắp đường quan.

 Bán buôn tấp nập các nàng giàu xinh

Làm bao nho sĩ say tình

Buông lời chọc ghẹo bóng hình khó quên…

Lời thơ dân gian cũng được phản ánh vào truyền thuyết về Liễu Hạnh công chúa, một trong “tứ bất tử” coi giữ vùng đất phía Nam của nước ta. Nàng Liễu Hạnh từng hiện thân làm công hàng, bà hàng bán quán… góp phần thể hiện nền thương nghiệp cởi mở thời Mạc.

Nói đến Liễu Hạnh là nói đến tục thờ mẫu, thờ nữ thần rất phát triển ở thế kỷ XVI gắn liền với luận thuyết của cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng: “Nữ giới Việt Nam từ đó đến nay trên thực tế là người làm chủ các đền” như việc: “Từ đời Mạc Ngọc Liễn các bà phi - tần, vợ đại quan đua nhau đứng ra hội chủ hưng công tu tạo các chùa đền”…“cuộc đời ngoại hạng” của các bà mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà mẹ Phùng Khắc Khoan… phóng khoáng, tự do, tự chủ là “nguyên mẫu trần gian” của mẫu… và “người đầu tiên phát hiện, đề cao mẫu Liễu Hạnh không phải ai khác ngoài cụ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, khi cụ đã bảy mươi tuổi ngoài…” với các cuộc gặp gỡ.

Gắn với các chuyện đó là: Phật giáo, Đạo giáo bị hạn chế ở thế kỷ XV, nhất là ở thời Lê Thánh tông (để được Nho giáo lên địa vị độc tôn) thì từ thế kỷ XVI trở đi, Phật Đạo lại có xu hướng phát triển trở lại… Tôn giáo cởi mở đi sâu vào dân gian, ảnh hưởng sâu đậm đến các tầng lớp bề trên… cũng góp phần cho nền văn học dân gian phát triển, ảnh hưởng đến nền văn học thành văn và được văn học thành văn ghi chép lại. Sách Lĩnh Nam chích quái ở đầu thế kỷ này là tác phẩm ghi chép truyền thuyết dân gian tiêu biểu. Gắn với hai cây đại thụ: số 1 - Nguyễn Bỉnh Khiêm (thầy), số 2 - Phùng Khắc Khoan (trò) che rợp bóng, làm xanh tươi nền văn hóa Việt Nam thế kỷ XVI là bao truyền thuyết giai thoại về hai vị đã được ghi chép trên văn bản thành văn, văn bản thành văn chữ Hán và văn bản thành văn chữ Nôm ở thời nay đều để lại những dấu ấn mà trong đó “Lâm tuyền vãn” tác phẩm nôm của Phùng Khắc Khoan và các tác phẩm khác của cụ không bao giờ phai mờ… làm cơ sở cho thời hoàng kim văn học ở thế kỷ XVIII sau này…

Tất cả những thành tựu đó ở thời Mạc (trong đó có phần đóng góp rất quan trọng của nhà Mạc) là sự cố gắng hết mức của vương triều trong hoàn cảnh binh hỏa liên miên.

Nhưng tại sao chưa đầy thế kỷ nhà Mạc vẫn cứ sụp đổ? Có nhiều nguyên nhân. Nhưng theo chúng tôi, đối ngoại là nguyên nhân quan trọng nhất. Trong “Việt Nam quốc sử khảo” chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu với tấm lòng nhiệt thành với non sông đất nước của mình đã sôi sục khi viết về việc nhà Mạc làm nhục quốc thể: “Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, sợ nhà Minh hỏi tội, đã lấy hai châu Thạch Tích, Niêm Lãng và bốn động Cổ Sim, Tư Lẫm, Kim Lặc, Liễu Cát hiến cho nhà Minh. Bản án kết tội bọn họ ấy nên ghi là: “Lấy đất đai của nước, nhân dân nước, tặng người ngoài, tội đáng chém!”. Chúng nó lấy lời gì để biện bạch được”. Ý kiến này về ý thống nhất với toàn thư, được các giáo sư chuyên khảo về Phùng Khắc Khoan như Bùi Duy Tân, Trần Lê Sáng đồng thuận. Nhưng với cố Giáo sư Trần Quốc Vượng thì khác. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng biện bạch: “Sao các ông không giở xem Minh sử như Giáo sư Đào Duy Anh thầy tôi - và tôi đã giở để thấy chính sử nhà Minh không hề chép việc “dâng đất” năm 1528 như toàn thư bịa tạc, còn việc “dâng đất” năm 1540 thì vua nhà Minh sai quan “cát địa sứ” cầm “giấy dâng đất” của Mạc Đăng Dung xuống “thực địa” mới té ngửa người ra là một số chỉ có tên mà không có đất, còn một số khác là đất của nhà Minh từ lâu rồi! Hóa ra Mạc Đăng Dung chỉ giả vờ thần phục theo chiến lược ngoại giao cổ truyền Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê: thần phục giả vờ. Độc lập thật sự”.

Nhưng hỏi rằng: vì sao người Minh “té ngửa” ra vì những tên đất giả bị lừa đến mức ấy mà họ vẫn để yên? Các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê tuy có chiến lược ngoại giao giả vờ thần phục ấy nhưng chưa hề có lối ngoại giao nhục nhã như việc Mạc Đăng Dung cùng 40 quần thần trói mình và nộp điền thổ, số dân cho nhà Minh, quì dưới ngựa của kẻ thù phương Bắc. Sự thật này không có gì có thể biện minh được.

Giáo sư Trần Lê Sáng nêu rất đúng: “Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên đến Mạc Mậu Hợp, suốt đời nhà Mạc ở Đông Đô, kéo dài từ năm 1527 đến năm 1592 đều luôn tỏ ra thần phục nhà Minh và chỉ được phong Đô thống chứ không được phong vương. Dĩ nhiên sĩ phu phải lấy điều này làm nhục”. Đây là cái nhục của một vương triều ngay từ buổi mới đi lên, quì gối trước một vương triều ngoại bang đang đi xuống mà những người cầm đầu nhà Mạc không biết rõ (không như Nguyễn Trãi, Lê Lợi trước kia rất nắm vững tình hình đối phương ở bên ngoài). Tình hình là: Vào thế kỷ XVI, Minh Thế tông Chu Hậu Thông (1507-1566) tin đạo giáo, suốt ngày trong cung lễ bái thần tiên, cầu trường sinh bất lão. Chủ sự bộ Hộ là Hải Thụy can gián bị bắt bỏ ngục. Thế tông để cho gian thần Nghiêm Tung chuyên quyền 17 năm, binh bị bỏ mặc, kho tàng trống rỗng, để cho các tộc phương Bắc tha hồ xâm nhập, ven biển đông nam gần nước ta giặc biển mặc sức cướp phá Trung Quốc. Minh Thần tông Chu Dực Quân (1563-1620) ru rú trong thâm cung một thời gian dài, không gặp triều thần để thu góp châu báu, làm nhiều người bỏ mạng. Thần tông lấy danh nghĩa “bạc thuế mỏ” vơ vét những nhà công thương nghiệp mới, bức đến nỗi các hộ chạy máy phải ngừng máy, chủ lò gốm nghỉ làm nghề, thợ làm muối chống thuế, thợ khai thác mỏ bạo động… Cho nên, các thế lực nước ngoài không ngừng xâm chiếm Trung Quốc. Người Hà Lan phát động cuộc đánh lén vào khu vực Bành Hồ, giáo sĩ phương Tây thừa cơ xâm nhập. Trong khi đó Thần tông tập trung vào xây dựng phần mộ cho mình, mỗi năm bắt 3 vạn quân dân làm xâu, tốn 800 vạn lạng bạc. Tất cả sự hủ bại của vua quan nhà Minh ở thế kỷ XVI là chuẩn bị cho sự sụp đổ hoàn toàn của nhà Minh ở thế kỷ sau: Minh Tự Tôn (Chu Do Kiệm) còn gọi là Minh Sùng Trinh bị khởi nghĩa nông dân Lý Tự Thành lật đổ phải treo lên Môi Sơn, tự treo cổ lên cây hòe bên đình Thọ Hoàng chết nhục nhã…

Tác phẩm “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ cho thấy: Ngay ở thời Mạc thôi mà người đồng hương Thạch Thất với Phùng Khắc Khoan là Nguyễn Kính cũng dám “chiếm cứ Lạng Sơn, rồi đánh lấy châu Khâm, châu Liêm của Trung Hoa, lại đánh lấy các châu huyện tỉnh Quảng Đông…” khiến nhà Minh lên tiếng trách, nhà Mạc sợ phải “chiêu dụ” Nguyễn Kính về, cho đổi họ Nguyễn thành họ Mạc, phong là Tây Kỳ vương, đem con gái là Phúc Thành công chúa gả cho con trai Nguyễn Kính là Ngọc Liễn. Tướng Phạm Tử Nghi thoát khỏi trung ương nhà Mạc tung hoành ở Trung Quốc, chết rồi mà vẫn làm cho

“Nhân dân Lưỡng Quảng kinh hoàng

Vua Minh sửa lễ theo tang công hầu”([1])

Trạng nguyên Lại bộ thượng thư nhà Mạc là Giáp Hải lấy đề tài cây bèo rất khiêm tốn, khiêm tốn nhưng mạnh mẽ theo kiểu Việt Nam - đã dám thách thức mọi nguy nan, mọi đối thủ, kể cả nhà chiến lược lỗi lạc lừng danh của Trung Quốc là Thái Công Vọng, để làm thành bài thơ gửi Đô ngự sử Mao Bá Ôn của nhà Minh. Mao Bá Ôn xem bài thơ rất sợ.

Nước Trung Hoa và đế chế của họ đang đi xuống rất yếu, rất hèn. Ở ta thời Mạc, có những bậc trí giả như Giáp Hải, vừa có quyền vừa có tài, rất biết chỗ yếu của nhà Minh. Thời này còn có những tướng mạnh như Phạm Tử Nghi để tự vệ đã đánh sang cả Trung Hoa mà làm sao những người chóp bu của vương triều Mạc lại có hành động yếu như thế làm giảm quốc thể dân tộc? Sách “Sơn cư tạp thuật” cho biết, ngược với Giáp Hải, sau khi xem bài thơ họa của Mao Bá Ôn, một bài thơ tầm thường, kém xa bài của Giáp Hải, Mạc Đăng Doanh được mệnh danh là ông vua sáng suốt nhất của nhà Mạc đã sợ hãi, xin nộp cống.

Triều đình nhà Minh sao không lên mặt với những tộc vào đánh, cướp Trung Hoa…  mà lại truyền hịch dọa đánh Mạc cho bọn Cừu Loan, Mao Bá Ôn đem quân đến đóng ở cửa Nam Quan. Bọn chúng cũng như các triều đại khác ở Trung Hoa bao giờ cũng có đặc tính “mềm nắn rắn buông”. Kể cả những lúc yếu nhất nếu chúng có thể to mồm được thì vẫn cứ to mồm. Nếu lúc đó chúng đủ sức nuốt được nước ta thì đã nuốt rồi cần gì sự quì gối của các vị lãnh đạo chóp bu nhà Mạc. Vấn đề là ở chỗ các vị lãnh đạo hàng đầu triều đại có nắm vững tình hình đối phương, tình hình thế giới hay không để sáng suốt xử lý. Trong tình hình ấy làm sao có thể lấy việc hối lộ kẻ thù làm quốc sách.

Nhà Mạc đã có nhiều công lao trong việc đối nội. Điều ấy rất đáng biểu dương. Nhưng đối ngoại như thế không thể chấp nhận. Các sĩ phu minh triết chọn thời, chọn chủ “ưu thần mẫn thế” rất cần phải cân nhắc nên đi theo ai? Thà đói thà khổ mà giữ được danh tiết quốc thể, còn hơn là được mỵ dân, sống sướng hơn mà mất quốc thể. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhiều sĩ phu bỏ Mạc theo Lê, kể cả những người phục vụ lâu, tận tụy trong hàng ngũ Mạc cũng vậy. Cũng không phải ngẫu nhiên mà bậc thầy của Phùng Khắc Khoan là Nguyễn Bỉnh Khiêm từ phục vụ rất đắc lực cho nhà Mạc lại bỏ về đi ở ẩn và xui học trò mình: “Gà đã gáy sáng” để học trò đi vào khu vực Lê Trịnh. Có khi cả một tập đoàn lớn quan quân quan trọng của nhà Mạc do Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến dẫn đầu bỏ Mạc theo Lê Trịnh vì nhiều nguyên do, nhưng cái nguyên do trên không phải không có tác dụng.

Sự kiện Mạc Đăng Dung và quần thần làm mất quốc thể xảy ra khi Phùng Khắc Khoan mới 13 tuổi (1540). Tiếng đồn nhiều thì một người thông minh như Trạng Bùng làm sao không biết? Nhà Mạc càng làm mất quốc thể, khom lưng với ngoại bang nhưng lại đàn áp các lực lượng chống đối ở bên trong. Hành động tiểu nhân kiểu ấy làm cho các sĩ phu bấy giờ như Phùng Khắc Khoan càng nhớ tới công lao mở nước chống ngoại xâm hào hùng của Lê Lợi. Giáp Hải đã khẳng khái ngâm vang:

“Mục kích ngọa bi tình trung cảm

Bình Ngô công đức đối thương thương”

(Mắt thấy bia nằm lòng rung cảm

Bình Ngô công đức ngất trời xanh)

Càng nhiều người nghĩ tới lời nói cao cả thấm thía của vua Lê Thánh tông với các người dưới (như quan Thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy): “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ… Nếu người dám lấy một thước, một tấc đất của Thái tổ mà đút lót cho giặc thì phải tội tru di”.([2])

Cho nên, Phùng Khắc Khoan, cũng như Lương Hữu Khánh… nhiều người khác dứt khoát bỏ nhà Mạc về với nhà Lê Trịnh. Chọn và chớp đúng thời cuộc, thức thời là ở chỗ đó.

Về với nhà Lê Trịnh, Phùng Khắc Khoan đã được dịp đem sở học, tỏ rõ tài kinh bang tế thế, văn chương mưu lược để phục vụ dân tộc và triều đại. Trong đó, mối hận lớn nhất là đối ngoại của Tổ quốc đã được cụ hoàn thành xuất sắc, bù vào những gì đã mất, làm cho nước ta càng nổi tiếng ở Triều Tiên, Nhật Bản và nhiều nuốc ở Đông Nam Á như nhiều bài tham luận đã nói tới.

Cuối cùng, trước khi kết thúc bài tham luận, tôi xin được chọn đọc một vài vần thơ của các tiến sĩ thời Nguyễn Lê Duy Trung và Nguyễn Văn Lý viết về Phùng Khắc Khoan do mình dịch. Đó là vừa để nêu công trạng của Phùng Khắc Khoan (nhất là công trạng đối ngoại của cụ) vừa là tỏ lòng trân trọng tôn kính của mình trong buổi hội thảo ở quê hương cụ: Thạch Thất, Xứ Đoài, nơi rực rỡ anh khí của Tản Viên:

Rùa vững song trũng đá tạc san

Trời vàng không tựa hội Nam Quan

Quang Hưng cương giới sinh thời mới

Thái tể miền quê chuộng cựu non

Thuyền lướt hạc bay nhìn cột mốc

Sứ tinh ngỡ lúc lại vùng biên

Cây xanh phiến đá ai phong biểu

Khuê đẩu mây xanh vẫn hiện lên”

Hay

“… Anh khí Tản Viên dòng tỏa sáng

Phục - tin tạo hóa tỏ thông quyền”

Ngày cuối tháng 10/2012

 



([1]) Xem tướng quân Phạm Tử Nghi (diễn ca sự tích) của Hội Khoa học lịch sử Hải Phòng.

([2]) Đại Việt sử ký bản kỷ thực lục quyển 13, kỷ nhà Lê.

Tác giả bài viết: Tiến sĩ Đinh Công Vỹ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 10


Hôm nayHôm nay : 1956

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 45025

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6318963

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

Khu du lịch Thiên Sơn - Suối Ngà

Đặt Logo, Banner