Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu » Họ Phùng Việt Nam

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Kỷ lục Khoa bảng Việt Nam

Thứ tư - 26/09/2012 08:31

 

Khoa bảng Việt Nam và những kỷ lục

                                                            Th¹c sÜ  Vò Huy V¨n   -   Hc vin KTQS

            Thi cử ngày xưa, các sỹ tử phải qua 3 kỳ thi chính là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Thi Hương được tổ chức ở địa phương, thường 3 năm 1 lần, số người lấy đỗ do triều đình quy định và tuỳ thuộc vào số thí sinh ở từng trường thi. Những người đỗ ở kỳ thi này được gọi là Hương cống, Sinh đồ (triều Lê) hay Cử nhân, Tú tài (triều Nguyễn). Chỉ những người đỗ Hương cống hay Cử nhân mới được vào học ở Quốc Tử Giám để tham dự thi Hội và thi Đình. Thi Hội được tổ chức ở Kinh đô, cũng thường 3 năm một lần ngay sau năm tổ chức thi Hương. Người đỗ ở kỳ thi Hội được vào thi Đình để lấy đỗ tiến sỹ và xếp hạng cao thấp, ở kỳ thi này đích thân nhà vua ra đề.

          Người đỗ trong các kỳ thi do triều đình tổ chức từ năm 1075 gọi là "Minh kinh bác học"; từ năm 1232 gọi là "Thái học sinh"; từ năm 1247 gọi là đỗ "Tam giáp", trong đó: "Đệ nhất giáp" gồm Tam khôi (3 ngôi đầu bảng theo thứ hạng nhất, nhì, ba: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), "Đệ nhị giáp" là Hoàng giáp tiến sỹ, "Đệ tam giáp" là Đồng tiến sỹ xuất thân. Đương nhiên, tất cả các danh hiệu trên đều là Tiến sỹ.

          Kết quả thi Đình do nhà vua quyết định, có thể lấy đủ cả ba hạng: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp hoặc chỉ có 1 hay 2 hạng dưới. Ngay ở hạng "Đệ nhất giáp" thông thường lấy đủ Tam khôi nhưng cũng có năm chỉ lấy đỗ 1 hoặc 2 người ở vị trí dưới mà không lấy đỗ Trạng nguyên. Ví dụ: bác học Lê Quý Đôn (người làng Duyên Hà, Hưng Hà, Thái Bình) đỗ đầu kỳ thi Đình năm 1752 nhưng chỉ mang danh hiệu Bảng nhãn vì khoa thi ấy triều đình không lấy đỗ Trạng nguyên, giống như bây giờ ở một số cuộc thi không có giải nhất mà chỉ có giải nhì, giải ba...

          Đỗ đầu trong các kỳ thi được gọi các danh hiệu tương ứng: Hương nguyên, Hội nguyên, Đình nguyên. Đỗ đầu cả ba kỳ thi được gọi là Tam nguyên, ví dụ: cụ Nguyễn Khuyến (người làng Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam) được dân gian gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Ngoài ra, những người đỗ Tiến sỹ còn được gọi là những "ông Nghè", thế nên dân gian có câu: chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng; người đỗ Cử nhân hay Hương cống gọi là "ông Cử " hay "ông Cống".

          Từ khoa thi đầu tiên dưới triều Lý năm 1075 đến khoa thi chữ Hán cuối cùng dưới triều Nguyễn năm 1919, cả thảy có 187 khoa thi Hội, lấy đỗ 2.991 tiến sĩ, trong đó có 46 trạng nguyên. Trung bình mỗi khoa thi lấy đỗ 16 tiến sỹ; khoa thi lấy đỗ nhiều nhất vào năm 1478: 62 tiến sỹ; khoa thi lấy ít nhất là năm 1781: 2 tiến sỹ, các năm 1592 và 1667 chỉ lấy đỗ 3 tiến sỹ. Tính trong 82 khoa thi (được ghi trên 82 bia ở Văn Miếu - Hà Nội) có hơn 200.000 lượt người dự thi nhưng chỉ lấy đỗ 1.306 tiến sỹ, tỷ lệ chọi trung bình là: 1/153. Từ khoa thi năm 1075 đến 1787 có 23 người đỗ đầu đồng thời cả hai kỳ thi Hội và thi Đình, trong đó có 6 người đỗ đầu cả ba kỳ thi (đạt danh hiệu Tam nguyên), có 5 người đỗ tiến sỹ 2 lần. Giải thích về việc này, có ý kiến cho rằng, ông cha ta xưa không chỉ học giỏi mà còn rất tự trọng nên đã thi đỗ lần 2 để chứng tỏ mình có thực tài, đồng thời dẹp bỏ được dư luận: đỗ là do may mắn hay là gian lận trong thi cử.

          Trấn Kinh Bắc xưa (nay thuộc Bắc Ninh và Bắc Giang, thêm một số huyện của Hà Nội, Vĩnh Phúc và Hưng Yên)là địa phương có số người đỗ đại khoa cao nhất nước với 593 tiến sĩ, trong đó có 15 trạng nguyên (chiếm gần 1/3 cả nước). Thứ hai là trấn Hải Dương (nay thuộc Hải Dương và một số huyện của Hưng Yên) với 572 tiến sỹ, trong đó có 11 trạng nguyên.

          Phủ Từ Sơn (thuộc Bắc Ninh) có số người đỗ đạt đứng đầu các phủ trong cả nước. Chỉ tính từ năm 1442 đến năm 1779, phủ Từ Sơn đã có 271 tiến sĩ; phân theo các huyện: Võ Giang 30, Quế Dương 29, Tiên Du 42, Yên Phong 40 và Đông Ngàn 130 người. Huyện Đông Ngàn (nay thuộc Bắc Ninh và một phần Hà Nội) là huyện có nhiều tiến sỹ nhất nước, thứ hai phải kể đến huyện Đường An (nay là huyện Bình Giang, Hải Dương) có tới 98 tiến sỹ.

          Làng Mộ Trạch (thuộc xã Tân Hồng, Bình Giang, Hải Dương) là làng có nhiều tiến sĩ nhất nước với con số kỷ lục: 36 tiến sỹ (trong đó có: 1 Trạng nguyên, 9 Hoàng giáp tiến sỹ và 26 Đồng tiến sĩ xuất thân). Trong số 82 bia đá hiện còn ở Văn Miếu - Hà Nội, có 18 bia khắc tên 25 vị tiến sỹ của làng. Trong danh sách 98 vị Tế tửu và Tư nghiệp Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng) làng cũng góp mặt 2 người là: Hoàng giáp Vũ Quỳnh và Tiến sỹ Vũ Huy Đĩnh. Năm 1656 cả nước có gần 3.000 sỹ tử về kinh thi Hội, lấy đỗ 6 tiến sỹ (tỷ lệ chọi: 1/500) thì làng chiếm 1/2: 3 người. Sửng sốt trước thành tích đặc biệt xuất sắc này, ông vua nổi tiếng hay chữ Tự Đức đã thốt lên rằng: "Mộ Trạch, nhất gia bán thiên hạ" nghĩa là: "Mộ Trạch, một làng mà bằng nửa thiên hạ!". Không dừng lại ở đó, 3 năm sau, trong khoa thi Hội tiếp theo, làng lại đóng góp 4 trên tổng số 20 tiến sỹ của cả nước (chiếm 1/4). Làng đứng thứ hai ở nước ta là làng Kim Đôi (thuộc Quế Võ, Bắc Ninh) có 25 tiến sỹ.

          Dòng họ có nhiều tiến sĩ nhất là dòng họ Vũ ở làng Mộ Trạch (nêu trên) với 30 trên tổng số 36 tiến sỹ của làng. Có khoa thi cả 2 anh em ruột cùng đỗ (năm 1304 cả Vũ Nghiêu Tá và Vũ Hán Bi đều đỗ Thái học sinh), có 2 khoa thi mà cả 3 người họ Vũ cùng đỗ (khoa thi năm 1656 có: Vũ Trác Oánh, Vũ Đăng Long và Vũ Công Lượng; tiếp đó 3 năm,khoa thi năm 1659 có: Vũ Cầu Hối, Vũ Bật Hài và Vũ Công Đạo).

          Dòng họ có 5 đời liên tiếp đỗ tiến sỹ là dòng họ Ngô ở Vọng Nguyệt (Yên Phong, Bắc Ninh). Bắt đầu từ Ngô Ngọc đỗ Hoàng Giáp năm 1487, tiếp theo là Ngô Hải đỗ Hoàng giáp năm 1508, tiếp đến là Ngô Trừng đỗ Hoàng giáp năm 1580, tiếp nữa là Ngô Nhân Triệt đỗ Tiến sỹ năm 1608 và đến đời thứ 5 có Ngô Nhân Tuấn đỗ Tiến sỹ năm 1640. Dòng họ có 4 đời liên tiếp đỗ tiến sỹ là dòng họ Nhữ ở Hoạch Trạch (Thái Học, Bình Giang, Hải Dương). Nhữ Công Chấn đỗ Hoàng giáp năm 1772, cha của ông là Nhữ Đình Toản đỗ năm 1736, ông của ông là Nhữ Tiến Hiền đỗ năm 1680, cụ của ông là Nhữ Tiến Dụng đỗ năm 1664. Thực là những điều xưa nay hiếm thấy và còn biết bao các gia đình, dòng họ có 3 đời đỗ tiến sỹ.

Gia đình họ Ngô ở xã Lý Trai (Diễn Châu, Nghệ An) 3 đời liên tiếp đỗ tiến sỹ và thật hiếm lạ là cả hai bố con cùng đỗ một khoa: Ngô Trí Hoà (28 tuổi) đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ và Ngô Trí Tri (56 tuổi) đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa thi năm 1592. Điều đặc biệt là năm ấy cả nước chỉ lấy đỗ có 3 tiến sỹ, như vậy một nhà mà chiếm 2/3 cả nước! Thật là "nhà có phúc" vì cha con cùng chiếm bảng vàng, vì con hơn cha (đỗ trên hạng) và còn vì tiếp đó con ruột, cháu nội của họ là Ngô Sỹ Vịnh đỗ Tiến sỹ khoa thi năm 1646.

Gia đình họ Nguyễn ở làng Kim Đôi (Quế Võ, Bắc Ninh) có năm anh em ruột lần lượt trở thành tiến sĩ dưới tuổi 20 chỉ trong vòng chín năm (từ 1466 đến 1475) là: Nguyễn Nhân Thiếp 15 tuổi cùng đỗ với anh Nguyễn Nhân Bị 19 tuổi, Nguyễn Nhân Phùng đỗ khi 19 tuổi, Nguyễn Nhân Dư đỗ khi 17 tuổi và Nguyễn Nhân Dịch đỗ ở tuổi 18.

          Thi đỗ ở độ tuổi trẻ nhất là Nguyễn Hiền (người làng Dương A, Thượng Hiền, Hà Tây) đỗ Trạng nguyên năm 1247 khi mới 13 tuổi. Cùng đỗ ở hàng Tam khôi với ông là Bảng nhãn Lê Văn Hưu 17 tuổi và Thám hoa Đặng Ma La cũng ở tuổi 13. Đều ở độ tuổi rất trẻ! Người cao tuổi nhất khi đỗ tiến sĩ là Quách Đồng Dần (người Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh), ông đỗ năm 1634 khi đã 68 tuổi. Sĩ tử cao tuổi nhất đồng thời là người sống lâu nhất trong làng khoa bảng nước ta là Đoàn Tử Quang (1818 - 1925, người làng Phụng Công, Hương Sơn, Hà Tĩnh). Kiên trì học tập, năm 1900 khi đã ở tuổi 82 ông mới đỗ Cử nhân, đứngthứ 29/30 (nhà yêu nước Phan Bội Châu đỗ đầu khoa thi này). Ông đã hoàn thành ước nguyện cháy bỏng suốt cuộc đời làđỗ đạt để làm vui lòng mẹ già khi ấy đã ở tuổi 98. Ông sống lâu, trải 11 triều vua, hưởng thọ 107 tuổi. Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Thuận dòng dõi họ Nguyễn làng Kim Đôi cũng thọ 107 tuổi.

          Người đỗ trạng nguyên hai nước (Lưỡng quốc Trạng nguyên)là Nguyễn Trực (người làng Bối Khê, Thanh Oai, Hà Tây), năm 1442 ông trở thànhTrạng nguyên đầu tiên của triều Lê. Trong lần làm Chánh sứ sang Trung Quốc, nhân gặp khoa thi và cũng muốn cho nhà Minh biết học vấn của người nước Nam, ông cùng phó sứ của mình là Bảng nhãn Nguyễn Như Đổ (người làng Đại Am, Thanh Trì, Hà Nội) cùng xin tham dự và thật là kinh ngạc: ông lại đỗ Trạng nguyên còn Nguyễn Như Đổ lại đỗ Bảng nhãn. Mang chuông đi đánh nước người, các ông đã chiếm cả hai ngôi vị cao nhất, thật là có một không hai trên đời! Cũng cần nói thêm, nước ta còn rất nhiều nhà khoa bảng như: Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (người làng Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương), Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Hoàng giáp Phùng Khắc Khoan (người làng Phùng Xá còn gọi là làng Bùng, Thạch Thất, Hà Tây)... khi đi sứ Trung Quốc đều làm cho ngoại bang kính nể bởi kiến thức uyên thâm và tài ứng biến.

          Người đỗ đầu (tương đương Trạng nguyên) khoa thi đầu tiên nước ta năm 1075 là Lê Văn Thịnh (người làng Đông Cứu, Gia Bình, Bắc Ninh). Nữ tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam là bà Nguyễn Thị Duệ (người làng Kiệt Đoài, xã Kiệt Đặc, Chí Linh, Hải Dương). Dưới thời phong kiến "trọng nam khinh nữ" bà đã phải giả trai để đi thi và đỗ Tiến sỹ năm 1592 triều nhà Mạc. Mến mộ tài sắc và khí tiết của bà, Vua Mạc đã mời bà vào cung để dạy các cung tần và sau đó đã cưới bà làm vợ.

          Người mẹ Việt Nam sinh ra 2 ông Trạng là con gái của Thượng thư Nhữ Văn Lan (người làng An Tử Hạ, Nam Sách, Hải Dương), bà xuất thân quyền quý học rộng tài cao, tiếc rằng thời bấy giờ phụ nữ không được đi thi. Hai ông trạng con bà là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nổi tiếng với những câu sấm truyền và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Nhân dân mến mộ tài đức gọi là Trạng Bùng, thực tế ông chỉ đỗ Hoàng giáp, ông có công đã đem giống ngô từ Trung Quốc về Việt Nam.

          Người lận đận nhất trong đường thi cử là Đặng Viết Hòe (Tú Mền, người làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định), ông 7 lần thi chỉ đỗ Tú tài mà không đỗ Cử nhân. Trần Tế Xương (Tú Xương, người Nam Định) nhiều lần thi cũng chỉ đỗ Tú tài.

                                                                         (Bài và ảnh: Vũ Huy Văn)

          ¶nh 1:  Hilàng Tiến sỹ (Mộ Trạch, Tân Hồng, Bình Giang, Hải Dương)

          ¶nh 2:  Rước bài vị 36 Tiến sỹ(làng Mộ Trạch)

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 31


Hôm nayHôm nay : 1238

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47767

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6119337

Đặt Logo, Banner