Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu » Họ Phùng Việt Nam

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Tiếp tục giới thiệu các tham luận trong buổi hội thảo khoa học với chủ đề “Nhà trí thức Phùng Văn Cung với cách mạng miền Nam”

Thứ sáu - 14/06/2013 11:32

PHÙNG VĂN CUNG - NGƯỜI CON TIÊU BIỂU DÒNG HỌ PHÙNG TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH 

(Phần tiếp theo)

 

II - PHÙNG VĂN CUNG - NGƯỜI CON TIÊU BIỂU DÒNG HỌ PHÙNG TRONG THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

1. Khái quát cuộc đời hoạt động cách mạng của Phùng Văn Cung.

Bác sĩ Phùng Văn Cung là một trong những trí thức nổi tiếng của Việt Nam ở thế kỷ XX. Ông sinh ngày 15-5-1909 tại xã Tân An, huyện Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Ông nhận bằng bác sĩ y khoa năm 1937 tại trường Đại học Y Hà Nội và trở về Nam Bộ hành nghề bác sĩ. Về sự học của ông đến nay vẫn còn truyền tụng về sự chăm chỉ, thông minh, thành tích học tập luôn đạt rất cao và khi trở về Nam chữa bệnh cho mọi người ông đã nêu một tấm gương sáng về y đức.

 Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bác sĩ Phùng Văn Cung tham gia giành chính quyền tại tỉnh Sa Đéc nay là tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1957 bác sĩ Phùng Văn Cung lần lượt làm Giám đốc y tế tỉnh Châu Đốc (nay là An Giang), tỉnh Rạch Giá (nay là Kiên Giang) và sau đó, làm bác sĩ tại bệnh viện Phúc Kiến ở Chợ Lớn. Tuy là một công chức cao cấp của chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng ông luôn luôn hướng tới cách mạng, thường xuyên bằng nhiều hình thức đấu tranh chống lại các chính sách của Mỹ - Diệm, nhất là chính sách đối với trí thức, đặc biệt là chính sách trưng tập bác sĩ đưa vào quân đội, bắt y, bác sĩ học tập và “tố cộng”.

Năm 1960, đáp ứng lời kêu gọi của UBTƯ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ông từ bỏ nhà cửa, từ bỏ cuộc sống giàu sang nơi đô thành, mang cả gia đình lên chiến khu cùng toàn dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm và bè lũ tay sai.

Ngày 20-12-1960 tại Đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, bác sĩ Phùng Văn Cung được bầu làm Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Với tài năng, đức độ và uy tín của mình, ông được các tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ trí thức yêu nước kính nể, khâm phục và bầu ông làm Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ của miền Nam, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của miền Nam Việt Nam.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tháng 6-1969 tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam, bác sĩ Phùng Văn Cung được bầu làm Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Cuối năm 1969, ông được cử làm Trưởng phái đoàn nhân dân miền Nam ra thăm miền Bắc, chuyển tấm lòng biết ơn và tình cảm ruột thịt của nhân dân miền Nam đối với Trung ương Đảng, Bác Hồ và đồng bào miền Bắc.

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bác sĩ Phùng Văn Cung trở lại sống và làm việc tại TP. Sài Gòn và phải xa cách chiến trường Tây Nam Bộ, nơi người vợ thân yêu - bà Lê Thoại Chi, một nữ cán bộ Mặt trận Dân tộc giải phóng tài năng và đức độ đã bị địch giết hại trên đường đi công tác.

Tháng 2-1977 tại Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, là Ủy viên Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam và Ủy viên Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của TP. Hồ Chí Minh.

Bác sĩ Phùng Văn Cung mất ngày 7-11-1987 tại TP. Hồ Chí Minh.

2. Thái độ của người trí thức Phùng Văn Cung trước thời cuộc

Là một trí thức tên tuổi bấy giờ, Phùng Văn Cung cũng như nhiều nhân sĩ trí thức khác đã sớm nhận ra đường đi cho mình phải là con đường cách mạng mà chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn. Nhân sĩ trí thức Việt Nam chân chính trước hết lấy nước làm trọng, tức quốc gia dân tộc làm trọng, danh dự quốc gia phải đặt lên hàng đầu.

Trong bối cảnh chế độ chính trị phản động Mỹ - Diệm những năm Ngô Đình Diệm cầm quyền trong sắc thái gia đình trị, một mặt dựa Mỹ thanh trừng các lực lượng chính trị khác một mặt biểu hiện sự độc tài, độc đoán đã khiến các tầng lớp nhân dân trong đó đặc biệt là các trí thức miền Nam Việt Nam bấy giờ hết sức phân vân.

Cũng phải thấy một điều, ngay bản thân chế độ Ngô Đình Diệm cũng có nhiều mâu thuẫn nội tại mà trong đó có những mâu thuẫn dường như không có hướng giải quyết. Quyền lực và thái độ của Mỹ khi ấy đã ảnh hưởng toàn cục đến thể chế chính trị Ngô Đình Diệm, điều mà các nhân sĩ trí thức chân chính miền Nam Việt Nam hết sức phản đối.

Nhân sĩ trí thức miền Nam Việt Nam giai đoạn này có thể khẳng định là những hạt nhân tinh túy nhất, tiêu biểu nhất của thế hệ người Việt Nam trong bước đường khởi đầu giao thoa hội nhập với văn minh phương Tây, ảnh hưởng rõ rệt nền văn minh Pháp, luôn chủ trương dân chủ, hòa bình, bác ái và có sự ảnh hưởng nhất định từ những thành tựu cách mạng tháng Tám năm 1945, uy tín cá nhân Hồ Chủ Tịch, ảnh hưởng từ các nhân sĩ trí thức được đào tạo tại Pháp đã tự nguyện theo cách mạng... Chính những yếu tố trên đã góp phần thay đổi nhận thức và hành động của đa số các nhân sĩ trí thức tiến bộ trong đó có không ít người đang công tác trong thể chế chính trị Ngô Đình Diệm có những quyết định mang tính lịch sử.

Bác sĩ Phùng Văn Cung là một trong những trí thức như vậy.

Sự kiện, gia đình bác sĩ Phùng Văn Cung tình nguyện rời bỏ Sài Gòn về chiến khu là một sự kiện lịch sử tất yếu đã được dự đoán từ trước. Sự quả đoán của bác sĩ Phùng Văn Cung trong bối cảnh lịch sử lúc ấy đã cho thấy thái độ dứt khoát của người trí thức trước thời cuộc, trước lịch sử, trước nhân dân mà vấn đề quan trọng hàng đầu là lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc và nhân dân đã được người trí thức đặt lên hàng đầu.

Sự kiện trên là một sự kiện chín muồi đối với những suy nghĩ và các hành động nhất quán của người trí thức Phùng Văn Cung với cách mạng, với lịch sử, với nhân dân. Sau này hẳn nhiên, ngay cả trong các lần gặp gỡ và báo cáo với Hồ Chủ Tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung đã xác lập lý lẽ và tấm lòng của người trí thức với cách mạng, với thời cuộc.

Đến đây có thể khẳng định, trong các thời khắc bước ngoặt lịch sử, khi mà vận mệnh Tổ quốc, vận mệnh dân tộc đang đặt ra những bước quyết liệt, gay go, đòi hỏi phải có sự quả đáng thì người trí thức, nhất là những trí thức tiến bộ đã có những quyết định vô cùng sáng suốt, để từ đó xác định đường đi đúng đắn của mình, góp phần công sức vào các thành quả cách mạng.

 3. Những cống hiến tiêu biểu của Phùng Văn Cung

Nói đến những cống hiến tiêu biểu của bác sĩ Phùng Văn Cung, các nhà nghiên cứu, các nhà lão thành cách mạng, nhân sĩ trí thức đồng thời và sau này, các thế hệ tiếp nối công cuộc cách mạng đều thống nhất đánh giá ông đã có những đóng góp to lớn trong Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau đây chúng ta sẽ cùng điểm lại các sự kiện (theo các nguồn tư liệu đã được khẳng định):

Ngày 20-12-1960 tại khu vực Trảng Chiêng xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, những người yêu nước đại diện cho các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái đã họp Đại hội thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 15-12-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận đã làm lễ kết nạp lực lượng võ trang giải phóng là thành viên chính thức. Tại cuộc mít tinh này, Ban Tổ chức đã giới thiệu Đoàn Chủ tịch (cũng là bộ phận lâm thời công khai của Mặt trận, gồm các vị:

- Bác sĩ Phùng Văn Cung thay mặt giới trí thức Sài Gòn.

- Ông Nguyễn Văn Linh thay mặt Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam

- Ông Ung Ngọc Ky thay mặt Đảng dân chủ miền Nam Việt Nam

- Ông Nguyễn Văn Hiếu thay mặt Đảng xã hội cấp tiến miền Nam Việt Nam

- Ông Lê Thanh thay mặt lực lượng quân giải phóng.

Ngày 30-10-1961, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ nhà trí thức yêu nước bị chính quyền Sài Gòn giam cầm ở Phú Yên, đã được nhân dân và các chiến sĩ quân giải phóng giải thoát về đến căn cứ Tây Ninh. Ngày 16-2-1962 tại khu vực Xóm Giữa - Lò Gò huyện Tân Biên (Tây Ninh) đã tiến hành Đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam  lần thứ 1. 80 đại biểu các đoàn thể, tôn giáo, dân tộc, trí thức, lực lượng võ trang đã về dự. Đại hội nhất trí cử 50 vị (trong đó có 20 vị còn hoạt động bí mật) vào Uỷ ban Trung ương Mặt trận. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch và các ông Huỳnh Tấn Pháp, Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Ibít Alêo làm Phó Chủ tịch.

Ngày 1-11-1963 cuộc đảo chính của quân đội Sài Gòn nhằm lật đổ Ngô Đình Diệm đã thất bại. Tình hình miền Nam xáo trộn có nhiều chuyển biến mới. Mặt trận chủ trương phát động cuộc đấu tranh với mức độ cao hơn để đánh gục kẻ thù. Mặt trận đề ra Tuyên ngôn và chương trình hành động 10 điều với nội dung: “Phải hòa bình. Phải độc lập. Phải dân chủ. Phải cơm no áo ấm. Phải hòa bình thống nhất Tổ quốc”. Mặt trận đã ra lời kêu gọi “Tất cả hãy đứng lên. Tất cả hãy đoàn kết lại. Hãy siết chặt hàng ngũ để chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và Ngô Đình Diệm”. Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài “Giải phóng miền Nam” làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...

Ngày 1-11-1964, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ 2. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch UBTƯ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội đã công bố Cương lĩnh mở rộng hơn nữa với khối đoàn kết, động viên toàn dân đánh bại chiến tranh cục bộ.

Ngày 8-1-1967, Mặt trận họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm nhằm tranh thủ tất cả những lực lượng có thể tranh thủ thu hút rộng rãi hơn những tầng lớp và cá nhân có khuynh hướng hòa bình, trung lập, cô lập triệt để hàng ngũ Mỹ - Ngụy.

Tháng 10-1967 Đoàn Chủ tịch Mặt trận mở hội nghị mở rộng, kiểm điểm tình hình và chỉ đạo cuộc Tổng công kích và khởi nghĩa của toàn dân. Cuộc Tổng tấn công và khởi nghĩa Mậu Thân 1968 đã làm rung chuyển các đô thị, báo hiệu sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn đang đến gần.

Ngày 20-4-1968, một số trí thức, nhân sĩ từ Sài Gòn đã ra vùng giải phóng, thành lập Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch, các ông Lâm Văn Tết, Thượng tọa Thích Đôn Hậu làm Phó Chủ tịch.

Ngày 6-6-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng cùng Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình hiệp thương thành lập Hội đồng cố vấn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Mặt trận và Liên minh cùng Chính phủ Cách mạng lâm thời đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đi tới ngày đại thắng 30-4-1975. Sau ngày miền Nam giải phóng, Mặt trận và Liên minh hoàn thành nhiệm vụ. Trong các ngày từ 15 đến 21-11-1975 Hội nghị chính trị hiệp thương thống nhất Tổ quốc đã tiến hành tại TP. Hồ Chí Minh, nêu cao quyết tâm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Đánh giá về vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đã nói: “...15 năm đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Biết bao thăng trầm đã diễn ra trong thời gian ấy và đã biết bao anh hùng liệt sĩ và những người bình thường đã ngã xuống trên con đường tiến đến độc lập, tự do, thống nhất nước nhà. Ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã được chiến sĩ và nhân dân miền Nam trân trọng như biểu tượng của chính ngọn cờ Tổ quốc Việt Nam duy nhất, của Đảng Cộng sản Việt Nam... Lịch sử Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là lịch sử của một giai đoạn hợp thành của lịch sử dân tộc, quốc gia...”.

4. Tiểu kết

Phùng Văn Cung, một trí thức tiêu biểu, một người con họ Phùng tiêu biểu trong thời đại Hồ Chí Minh đã dành phần lớn cuộc đời mình cống hiến cho cách mạng, cho Tổ quốc, cho nhân dân. Từ sự chọn đường của ông, từ những phấn đấu hy sinh mọi mặt của ông chúng ta có thể thấy, dưới thời đại Hồ Chí Minh, mọi tầng lớp nhân dân trong đó có tầng lớp trí thức đã tình nguyện đem hết tài năng và trí tuệ của mình phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc. Càng phải khẳng định một điều, dưới thời đại Hồ Chí Minh, những gì tinh túy, tinh hoa nhất của người trí thức đã được phát huy và mang lại những kết quả hữu ích nhất.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay, những tấm gương như bác sĩ Phùng Văn Cung, một trí thức tiêu biểu rất cần được tiếp tục làm sáng rõ để các thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong đó có giới trí thức trẻ Việt Nam học tập và noi theo.

Tác giả bài viết: Phùng Văn Khai

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28


Hôm nayHôm nay : 1215

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47744

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6119314

Đặt Logo, Banner