Trang nhất » Tin Tức » HọPhùngvớinonsông

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Tiếp tục giới thiệu các tham luận trong hội thảo "Nhà trí thức yêu nước Phùng Văn Cung" với cách mạng miền Nam

Thứ bảy - 15/06/2013 14:16

 

VĨNH LONG TỰ HÀO VỚI NHÂN SĨ YÊU NƯỚC PHÙNG VĂN CUNG

I. Mở đầu

          Vào những tháng cuối năm 2012, tôi được Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long Nguyễn Tuấn Kiệt mời tham gia viết bài Hội Thảo khoa học “Người trí thức yêu nước Phùng Văn Cung với cách mạng Miền Nam”(Đảng văn số 306-CV/TU, ngày 17/12/2012). Lập tức trong tôi có mối quan hệ:

          Năm 1990, tôi được lãnh đạo tỉnh Cửu Long mời tham gia một công trình nghiên cứu khoa học - xã hội học, viết về nhân vật chí những nhân vật tiêu biểu của ngành y tế Vĩnh Long và Trà Vinh. Nhưng 17 năm sau, công trình mới có điều kiện phát hành với cuốn sách có nhan đề Chuyện của một thời và mãi mãi” (đã tái bản lần thứ hai, năm 2009). Song, rất tiếc không có chân dung Bác sĩ Phùng Văn Cung.

          Giờ đây, buộc tôi phải vượt qua khó khăn với tuổi cao, sức yếu, hiểu biết hạn chế, đứng ở góc nhìn không đầy đủ của người thầy thuốc, tôi hết sức cố gắng góp phần rất nhỏ vào trang viết, nhằm đáp ứng yêu cầu của Ban Tuyên giáo, có điều gì sai sót, hoặc về tư liệu có sự trùng lắp khó tránh, mong Hội thảo rộng lòng lượng thứ.

II. Lịch sử gọi tên anh

          Nếu tháng 8 năm 1945, bác sĩ Phùng Văn Cung tham gia cách mạng, cùng nhân dân giành chính quyền ở Sa Đéc, rồi cùng với vợ là bà Lê Thoại Chi (quê Cái Tàu, Sa Đéc) đi kháng chiến chống Pháp, cũng như những đồng nghiệp cùng một thời tốt nghiệp bác sĩ trước năm 1945, như: Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ v.v. thì chắc chắn Phùng Văn Cung sẽ được trọng dụng trở thành những bác sĩ quân y hoặc dân y có tên tuổi tại vùng căn cứ Sa Đéc, hoặc Khu 7, Khu 8, Khu 9 hay Sở Y tế Quân Dân Nam Bộ.

          Nhưng tại giai đoạn đó, ông ở lại, đương nhiên là một bác sĩ có ảnh hưởng lớn đối với công cuộc cách mạng tháng 8 và có cảm tình với y tế kháng chiến, sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ những điều gì mà khả năng ông có thể đáp ứng được…Đồng thời là một quan đốc tờ có phòng mạch tư, nổi tiếng là từ tâm, thương cảm những bệnh nhân nghèo vô điều kiện, được truyền tụng qua nhiều vùng đô thị Châu Đốc, Rạch Giá, Sài Gòn.

          Ông không ra đi, không phải là không đến mà là sự tích tụ hằng thẩm định mình, chờ lệnh… để bật ra cái thời khắc khẩn thiết nhất đối với Cách mạng miền Nam. Đó là có một người trí thức lớn, tiếng tăm, quyền cao, chức trọng, giàu sang của chế độ Sài Gòn, được đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy mời ra chiến khu. Hẳn là có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Cách mạng miền Nam: “Gọi đúng tên anh”.

          Bác sĩ Phùng Văn Cung đã đến với trách nhiệm thử lửa, đến với niềm vinh dự lớn, đến với niềm tự hào về người con của quê hương Vĩnh Long.

III. Bước ngoặt quyết định

          Thời kháng chiến chống Pháp, là một trong những người lính quân y đã từng sống, công tác, chiến đấu tại chiến khu Đ, chiến khu Dương Minh Châu, quá quen với các địa danh Sông Bé, Bà Đã, Mã Đà, Suối Giây khét tiếng là một vùng rừng thiêng nước độc, gắn liền với sốt rét, thiếu ăn, thú dữ, muỗi mòng, ve vắt… Vượt qua gian khổ, những người chiến sĩ ấy cùng với đồng đội đã trụ vững, chiến đấu và chiến thắng cam go, kẻ thù và bệnh tật.

          Sau này, trong kháng chiến chống Mỹ “Một bộ phận của Đảng phụ trách miền Nam, trở về tiếp tục đóng căn cứ tại đây”…[1]

          Đọc Đinh Phong, qua “Phùng Văn Cung một trí thức lớn hết lòng vì nhân dân”, từ trong tâm khảm, tôi vô cùng khâm phục và thực lòng kính trọng ông, một trí thức lớn, đầy quyền uy mà ông cùng vợ con đang nằm trên đống vàng, sẵn sàng bỏ lại đằng sau tất cả, nghe theo tiếng gọi của Đảng, của Bác Hồ, từ Sài Gòn đầy cạm bẫy, ra đi. Ông ra đi với tư thế ngẩng cao đầu của sự “ thuận vợ, thuận chồng, tát biển đông cũng cạn” Xin trích đoạn dưới đây:

          “Một buổi chiều cuối năm 1959, giao liên đưa về căn cứ một gia đình từ Sài Gòn ra. Hai vợ chồng một trí thức và hai cô con gái còn nhỏ. Họ phải đi bộ khá xa, đi qua hàng chục cây số rừng chồi, lội qua một quãng suối nước ngập đến ngực. Các chiến sĩ phải vừa cõng, vừa khiêng cả gia đình qua những đoạn khó khăn. Đó là gia đình bác sĩ Phùng Văn Cung, từ Sài Gòn đến căn cứ - trở thành người trí thức Sài Gòn đầu tiên đến với căn cứ cách mạng bí mật, nằm giữa vùng rừng thiêng nước độc”.[2]

          Tôi không lặp lại những điều Đinh Phong viết tiếp, đặc biệt về sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, với vai trò tiêu biểu của Chủ tịch Mặt trận Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và những vị đồng nhiệm với các chức năng quan trọng, trong đó có Phó Chủ tịch Mặt trận bác sĩ Phùng Văn Cung. Song, tôi không thể không chép lại hai nội dung cùng đồng hành mang giá trị lịch sử về “Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.[3]

          - Một, với Nguyễn Hữu Châu, Trưởng nam của cố Luật sư Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, trong tác phẩm “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ hành trình yêu nước”[4] Trích đoạn: “Ngày 6/6/1969, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa Bình Việt Nam và những lực lượng yêu nước khác đã tổ chức Đại hội Đại biểu Quốc dân, bầu Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn của chính phủ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Cha tôi là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn. Điều đó xác lập rằng trên thực tế ở miền Nam có hai Chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát”[5]. Bút ký ngắn này đã để lại cho đời chân dung của “Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, như còn mãi với thời gian”[6]: “Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đứng ở đầu sóng ngọn gió, Ông được cả nước và quốc tế biết đến trên cương vị là Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”[7].

          - Hai, với những trang viết trong tập hồi ký “Kể chuyện đời mình”[8]của Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Mè đã đi qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ (Người mẹ Vĩnh Long có bốn con trai, trong đó cả ba anh em liền kề đã anh dũng hy sinh ở tuổi ngoài hai mươi, tại các chiến trường ác liệt: Sài Gòn, Rạch Giá, Vĩnh Long trong kháng chiến chống Mỹ, và con trai thứ tư là thương binh, từ T3 được tổ chức đưa lên R cùng công tác ở cơ quan của mẹ). Trang viết thuật lại không khí náo nức, phấn khởi của “Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam”[9] mà danh sách được bầu hầu hết là những nhà trí thức yêu nước tiêu biểu, những nhà hoạt động cách mạng dày dặn. Dưới đây xin trích một số nguyên văn:

           “Đại hội khai mạc ngày 6-6-1969, tại vùng Tà Nốt, thuộc căn cứ R”. Các đại biểu được triệu tập nhưng không một ai biết điểm họp. Bí mật hoàn toàn - giao liên đưa đi đến hội trường mới biết, nhưng không biết đây là nơi nào, vì nếu sơ hở, địch biết thì nó sẽ dùng bom, pháo hay biệt kích đánh phá.    

           Hội trường to lớn lợp lá trung quân rất đẹp. Ngay cổng chính, có hai giải phóng quân trẻ măng, khôi ngô với bộ quân phục mới tinh, đội nón tai bèo, mang dép râu đứng nghiêm bồng súng có lưỡi lê sáng loáng chào từng đoàn đại biểu. Tất cả đều ăn mặc mới, đẹp lần lượt bước vào cổng to cao rộng của hội trường.      

           Đại hội bầu ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, gồm có:

           1. Chủ tịch Chính phủ: Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát

           2. Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Bác sĩ Phùng Văn Cung.

           3. Phó chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Thanh niên: Giáo sư Nguyễn Văn Kiết.

           4. Phó chủ tịch: Ông Nguyễn Đóa, nhân sĩ trí thức Trung Trung Bộ.

           5. Bộ trưởng Phủ Chủ tịch: Ông Trần Bửu Kiếm .

           6. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Ông Trần Nam Trung.

           7. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Bà Nguyễn Thị Bình .

           8. Bộ trưởng Bộ Tài chính: Kỹ sư Cao Văn Bổn .

           9. Bộ trưởng Bộ Thông tin - Văn hoá: Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.

           10. Bộ trưởng Bộ Y tế - Xã hội và Thương binh: Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.

           11. Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Ông Trương Như Tảng[10].

            12. Thứ trưởng Phủ Chủ tịch: Ông Ung Ngọc Ky.

            13. Thứ trưởng Bộ Nội vụ: Giáo sư Nguyễn Ngọc Thưởng.

            14. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Ông Đồng Văn Cống.

            15. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: ông Nguyễn Chánh.

            16. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao: Ông Lê Quang Chánh.

            17. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao: Ông Hoàng Bích Sơn.

            18. Thứ trưởng Bộ Kinh tế Tài chính: Ông Nguyễn Văn Triệu.

            19. Thứ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá: Nhà văn Lữ Phương.

            20. Thứ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá: Nhà văn Thanh Nghị.

            21. Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên: Giáo sư Lê Văn Chỉ.

           22. Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên: Ông Hồ Hữu Nhựt.

           23.Thứ trưởng Bộ Y tế - Xã hội - Thương binh: Bác sĩ Hồ Văn Huê.

           24. Thứ trưởng Bộ Y tế - Xã hội - Thương binh: Bà Bùi Thị Mè.

           25.Thứ trưởng Bộ Tư pháp: Kỹ sư Lê Văn Thả.

           Thế là chúng ta có một Chính phủ cách mạng lâm thời để tiến công địch. Về mặt ngoại giao, khi loan tin Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ra đời, các đài phát thanh nước ngoài nắm được tin đều loan tin đồng loạt.

          Đối với Mỹ và tay sai, đây là “quả bom” hết sức bất ngờ và vô cùng bất lợi đối với chúng. Bạn bè yêu chuộng hoà bình và công lý lên tiếng ủng hộ, các chính phủ, ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta từ trước đến nay ra tuyên bố nhìn nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

           Đổ biết bao xương máu mới có được thắng lợi này. Sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sức đấu tranh của toàn thể quân dân ta mới có bước ngoặt này.

           Đối phương phủ nhận ta, nay phải nhìn nhận ta là một thực tế, phải ngồi lại với ta. Ta có chính nghĩa sáng ngời, mọi người đều biết lợi thế của ta, chân lý ấy làm sao phủ nhận được!

            Toàn thể quân dân ta vô cùng mừng rỡ trước thắng lợi này và vững bước tiến lên giành thắng lợi mới”[11].

           Những trang viết nêu trên bây giờ cần phải được nhắc lại, nhắc lại cho thế hệ hôm nay và mai sau, không bao giờ được quên lãng một chứng tích kỳ vĩ của Cách mạng miền Nam vùng đứng lên! Trong đó có cương vị và trọng trách của bác sĩ Phùng Văn Cung. Có sức mạnh của tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Có “Một quá trình tư tưởng đã đưa những vầng trán lên cao”[12].

           Bác sĩ Phùng Văn Cung một nhân sĩ yêu nước, sinh năm 1909 ở Vĩnh Long hoạt động cách mạng năm 1959, làm Phó chủ tịch thứ nhất Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam năm 1969. Cho thấy chặng đường phía trước còn đầy cam go thử thách; với 60 tuổi đời, có 10 năm hoạt động cách mạng, 5 năm tuổi Đảng, ông đã trở thành một tên tuổi lớn của Cách mạng miền Nam.

           Dù thời gian đã đi qua 44 năm, nhưng viết đến đây, chợt trong tôi hiện lên hình ảnh tuyệt đẹp, đó là sau khi kết thúc Đại hội: Bác sĩ Phùng Văn Cung, Nhà giáo Bùi Thị Mè và Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ vừa được Chính phủ phân công làm Tổng thanh tra Bộ y tế - xã hội - thương binh; cả ba người đồng hương Vĩnh Long gặp nhau hồ hởi, tay bắt mặt mừng! Còn tôi thì cứ để nguyên vậy cho những giọt nước mắt xúc động và sung sướng ứa ra, ứa ra không thể nào kềm lại được!

IV. Gia đình và người con thứ năm nhà họ Phùng

1 - Ấn tượng về chiếc nôi của Phùng Văn Cung: [13]

          Phùng Văn Cung sinh ngày 15-5-1909 ở làng Tân An, Quận Châu Thành, Tỉnh Vĩnh Long, nay là phường 9, thành phố Vĩnh Long; một vùng đất nằm xa trung tâm thị xã. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân có mức sống trung bình. Cha là Phùng Văn Thân một nông dân có học thức, không làm bất cứ một chức dịch gì trong làng, sống hòa nhập với cộng đồng nhà nông trong tình làng nghĩa xóm. “Mẹ là Nguyễn Thị Lới mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, người cha là một quan chức trong triều đình Huế, do bận đi kinh lý nay đây mai đó, nên ông đành gửi con gái cho người em ruột của vợ (Phạm Thị Chẩn) nuôi nấng, dưỡng dục. Thời điểm này gia đình đang tọa lạc ở Đà Nẵng, sau đó bà cùng chồng (Ngô Tam Thông) đưa con, cháu đi vào Nam Bộ, và định cư lập nghiệp, sinh sống ở mảnh đất Vĩnh Long. Nguyễn Thị Lới được dì ruột nuôi dạy chuẩn mực, lớn lên gả lấy chồng cùng trên vùng đất Vĩnh Long; là một cô gái xinh đẹp, giỏi nội trợ, đảm đang, quán xuyến gia đình ngay từ khi nàng dâu mới bước chân về nhà chồng”[14]. Ông Phùng Văn Thân, nối dõi dòng họ làm nghề nông, lấy sức cần cù lao động, canh tác ruộng vườn làm ra của cải vật chất, tạo dựng tổ ấm gia đình. Đối với các con, ông rất nghiêm khắc giáo dục về tư cách, quản lýviệc học hà̀nh, lao động vàsinh hoạt cánhân, đểcon cái trởthành những người cóích cho gia đình vàxã hội.   

         Thân mẫu của Phùng Văn Cung, sinh nở 12 lần, nhưng nuôi được 8 người, gồm 4 gái và 4 trai. Phùng Văn Cung con trai thứ năm, là một trong những người con sáng dạ, học giỏi nhất. Lao động tháo vát thể hiện: Người anh gương mẫu, qua việc đồng áng, tùy theo mùa vụ, tranh thủ ngày chủ nhật, lúc rảnh rỗi, thức khuya dậy sớm, ra ruộng giúp cha - cha phát cỏ, mấy anh em xúm nhau cào, gom thành vồng hoặc be bờ, đắp đập. Còn trong nhà mỗi người mỗi việc, chia nhau làm, xay lúa, giã gạo… Riêng Năm Cung lãnh phần đội từng thúng gạo, chân đất đầu trần, lội bộ ra lộ, rồi đi đến chợ bỏ mối; tiền mang về cho mẹ không thiếu đồng xu… Là người con trai hiếu thảo, hiền lành, biết cách đối nhân xử thế từ trong nhàra ngoài ngõ; được bạn bè và bà con cô bác lối xóm trân trọng, quý mến.

           Sớm thoát ly gia đình, là học sinh xuất sắc mọi cấp học, nên Năm Cung được hưởng học bổng từ bậc trung đến đại học, và đã thi đậu đại học y khoa Hà Nội. Tuy nhiên, thời ấy, không dễ gì là con của những nhà bình dân mà có thể theo học suôn sẻ, nếu không được sự đùm bọc của người vợ, bà Lê Thoại Chi, sinh năm 1913, quê ở Cái Tàu, Sa Đéc, con của một gia đình giàu có, sau khi kết hôn, bà tự nguyện theo chồng ra Hà Nội, được gần gũi chăm sóc, tạo mọi điều kiện thuận lợi để chồng yên tâm học tập thành tài, và ông đã tốt nghiệp bác sĩ năm 1937, ở tuổi hai mươi tám.

           Nhưng còn đó nỗi đau về người cha. Giặc Pháp và tay sai vào làng khủng bố, đốt nhà cướp của, giết hại dân lành. Ông chống lại, bị chúng xả súng bắn gãy một chân. Người con thứ chín Phùng Văn Giỏi, thoát ra khỏi nhà chạy kêu dân làng cầu cứu, nhưng không kịp, ở bắp vế máu ra nhiều quá, không trối lại được lời nào, ông gục xuống chết bên cạnh bồ lúa trong nhà. Hồi ấy là năm 1947, Năm Cung xa gia đình, không nhìn thấy mặt cha lần cuối!

           Hiện hữu, cái nôi của Phùng Văn Cung là ngôi nhà xưa ba gian, hai chái, thoáng đãng vách cây, nay đã xây tường. Ai đến thăm một lần sẽ để lại ấn tượngđẹp về cách bố cục ngăn nắp, kỷ cương, hình ảnh hàng trăm năm còn lưu dấu ngôi nhà từ đường trước đây: Từ sảnh thờ, trên bàn có bốn bức ảnh khổ rộng, phía trên là hai bức của người cha Phùng Văn Thân (1877-1947), người mẹ Nguyễn Thị Lới (1880-1967); phía dưới là hai bức ảnh của vợ chồng người con thứ chín Phùng Văn Giỏi (1914-1989) và Trần Thị Tỵ (1919-2007).

          Nội thất sắp xếp đơn giản mà cổ kính, với bộ trường kỷ gian giữa và hai bên hai bộ ngựa thau lau, chừng như không thấy vết xước, bóng loáng mát rượi.

          Hiện tại, ngôi nhà cùng 5 công ruộng, 6 công vườn là tài sản của bao đời vun đắp để lại. Ông Phùng Văn Giỏi lam lũ chất phát, hiền lành, cùng bà Trần Thị Tỵ rất mực tần tảo, có để lại Di chúc cho các con kế tục nhau thừa tự. Tại giai đoạn này, với sự hiện diện của bốn người con ruột quản lý: Phùng Thị Thu, Phùng Thị Ngọc Hà (cả hai không xây dựng gia đình riêng) và đều là giáo viên cấp tiểu học, đã nghỉ hưu; Phùng Minh Hải nông dân; Phùng Văn Hùng và vợ cùng làm việc ở ngành Tài nguyên Môi trường Vĩnh Long. Tất cả các chị em đều ở chung một nhà, tỏ rõ nếp sống của một gia đình gia giáo, thuận hòa, đùm bọc nhau, được phường khóm nể trọng, ngợi khen.

             Trên đường Phạm Hùng, thành phố Vĩnh Long, dừng lại đầu Hẻm 249, Phường 9, đi vào khoảng vài trăm mét theo con đường bê tông uốn lượn vòng vèo, chiều rộng đủ cho người đi bộ và hai chiếc xe gắn máy hoặc xe đạp qua lại; hỏi nhà ông Chín Giỏi thì ai cũng có thể chỉ, đó là nhà số 113, khóm 1. Nhưng  nhiều giới chức và nhân dân Vĩnh Long thì chưa ai biết tại ngôi nhà này có một “Người trí thức yêu nước Bác sĩ Phùng Văn Cung với cách mạng miền Nam”, bởi ở ông, Tổ quốc là trên hết!

2. Hai thế hệ trí thức, chung một tấm lòng

          Tôi cảm ơn sự nhiệt tình của Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang, bác sĩ Lê Kim Hà, nguyên trưởng khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện Quân y 175, là con dâu thứ hai của Bác sĩ Phùng Văn Cung - chồng là bác sĩ Phùng Ngọc Ẩn, nguyên Phó Giám đốc bệnh viện Nhân dân Gia Định, đã mất năm 2005 vì bệnh ung thư gan. Đồng chí Hà sẵn sàng đóng góp cho tôi một số tư liệu theo yêu cầu, để viết tham luận về “Người trí thức yêu nước Phùng Văn Cung với cách mạng miền Nam”.

         Tôi không thể kềm được cảm xúc trào ra từ khóe mắt, khi đọc những trang viết của đồng chí. Là người lính quân y già, nên tôi cảm thấy mình như người trong cuộc; có những tư liệu trở thành bài học sống động cho những lớp thầy thuốc xã hội chủ nghĩa, hãy đọc mà chiêm nghiệm, mà chịu khó tự rèn luyện mình, để trở thành người thầy thuốc thực sự có đạo đức. Phạm vi này có dịp tôi sẽ sử dụng vào những chuyên đề mang tính đặc trưng của ngành y tế.

          Dưới đây, xin phép được trích dẫn và phân tích một số nội dung còn lại: Ung thư xương là một trong những bệnh gây đau nhức khủng khiếp đến tận cùng sức chịu đựng của con người, nhiều người chịu không nổi đã tự tử trước khi chết vì bệnh cảnh. Thế nhưng, sức chịu đựng phi thường của Phùng Văn Cung, tôi không thể nào tưởng tượng nổi. Bác sĩ Lê Kim Hà kể: “Đầu năm 1987, khi căn bệnh ung thư xương  đã di căn vào phổi, làm ông ngã gẫy cổ xương đùi (căn bệnh này ông đã biết trước nhiều năm, nhưng không muốn cho các con bận tâm lo lắng), nên không người con nào biết được, một mình ông âm thầm chịu đựng, lúc đó vợ chồng tôi đưa ông về nhà để chăm sóc. Thời điểm này kinh tế vô cùng khó khăn, căn nhà của vợ chồng tôi là căn nhà cấp bốn, mái tôn, điều kiện thiếu thốn đủ mọi thứ nhưng với đức tính giản dị, ba tôi không hề phàn nàn hay than thở một lời nào, mặc dù những ngày cuối của cuộc đời với căn bệnh hiểm nghèo, ba tôi vô cùng đau đớn. Ông sống với vợ chồng chúng tôi cho đến 04 giờ 50 phút, ngày 7 tháng 11 năm 1987, ông vĩnh viễn ra đi”. Hưởng thọ 78 tuổi.[15] “Là con dâu, nhưng tôi xem ông như cha đẻ của mình, bởi ông là một trí thức lớn, nhưng con người ông có những đức tính nhân hậu, khiêm tốn, giản dị, đã bỏ lại tất cả nhà cửa tài sản lớn lao đưa cả gia đình tham gia cách mạng, như lời ông tâm sự với tôi: “Người ta đi làm cách mạng từ không đến có, còn ba ra đi từ trên đống vàng và trở về với hai bàn tay trắng”.[16] Câu này mang tính triết lý sâu sắc lắm, tôi không dám bình luận toàn câu, chỉ mạo muội có đôi điều cảm nhận ở vế “…trở về với hai bàn tay trắng”. Đó là hai bàn tay được tôi luyện từ ý chí kiên trung và tấm lòng trong sạch vì Đảng, vì Dân.

          - Hai bàn tay trắng, nắm chặt bàn tay vợ con mình, từ đô thành đi bộ, luồn rừng lội suối vào chiến khu, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

           - Sau khi vào chiến khu “ Bác sĩ Phùng Văn Cung nhanh chóng (với hai bàn tay trắng) bắt tay làm việc với các đồng chí lãnh đạo Xứ ủy tham gia dự thảo Chương trình 10 điểm lời hiệu triệu nhân dân miền Nam”. “Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tuyên bố thành lập với Chương trình 10 điểm và lời hiệu triệu nhân dân miền Nam đoàn kết đứng lên giành lấy chính quyền.[17]

            Được tin sức khỏe Bác Hồ ngày càng giảm sút, Mặt trận, Liên minh quyết định cử một đoàn đại biểu do Bác sĩ Phùng Văn Cung dẫn đầu bằng đường đặc biệt ra thăm Bác Hồ và miền Bắc. Bác sĩ Phùng Văn Cung và đoàn đại biểu được Bác Hồ tiếp thân mật[18]hai bàn tay trắng của ông vinh dự được Bác Hồ siết chặt rồi quàng qua vai ôm hôn thân thiết!

           - Khi đã đến tuổi nghỉ hưu, tại số nhà 15 đường Tú Xương, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh, ngôi biệt thự của Bác sĩ Phùng Văn Cung, nguyên Phó Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cứ mỗi tuần vào ngày chủ nhật, hai bàn tay trắng cầm chắc ghi đông xe đạp “đi từ Quận 3 vào Quận Phú Nhuận để chơi và trò chuyện với vợ chồng Lê Kim Hà, Phùng Ngọc Ẩn và hai cháu nội”.[19]

            - Trước khi mất , hai bàn tay trắng của ông còn nắm chặt bàn tay của Kim Hà và Ngọc Ẩn, căn dặn cặn kẽ từng lời: “Khi ba mất rồi thì các con trả căn biệt thự ba đang ở cho nhà nước”.[20]

           Viết đến đây, sao tôi khỏi liên hệ, cái thời buổi mà không ít người kể cả họ hàng, cật ruột, tranh chấp với nhau từng centimet vuông mặt đất và không gian để xây nhà, dựng trại… Thế nhưng, với con dâu của Bác sĩ Phùng Văn Cung thì bộc trực: “mặc dù lúc đó nhà của vợ chồng chúng tôi là căn nhà cấp bốn, nhưng vợ chồng tôi đã thực hiện đúng như lời ông dặn”.[21]

           Chừng như hai vong linh của hai nhân cách lớn - ông Cung và ông Nghiệp không hẹn mà gặp nhau cùng thốt lên hoài niệm qua ngòi bút của Trầm Hương với tiểu thuyết Đêm Sài Gòn không ngủ[22]có đoạn (trích) “… Nhà giáo nhân dân, nhà văn bác sĩ Trần Hữu Nghiệp gây cho tôi niềm khâm phục khi ông thẳng thắn bày tỏ: “Chúng tôi, tầng lớp nhân sĩ trí thức tham gia cách mạng, không chỉ mất xiềng xích mà mất cả gia tài, sản nghiệp, hạnh phúc riêng tư”. Mất như vậy mà lớp người trí thức ấy vẫn dấn thân đi làm cách mạng. Thật đáng kính phục phải không?...Qua những người thế hệ trước, tôi tự hào vì đất nước có quá nhiều những “hiện thực huyền ảo”.

V.  Đoạn kết

          - Bà Lê Thoại Chi, người bạn đời cùng lý tưởng, chung chí hướng, đã theo ông đi suốt cuộc đời, từ giai đoạn còn là sinh viên đại học, đến chặng đường hành nghề bác sĩ và hoạt động cách mạng… Do đó mỗi khi nói đến sự hiến dâng của người tri thức yêu nước Phùng Văn Cung phải hiểu rằng trong đó có sự đóng góp bản lĩnh của vợ ông: đồng chí Lê Thoại Chi, một chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tại chiến khu Dương Minh Châu ngày 20-10-1966 trong kháng chiến chống Mỹ, đến nay vẫn chưa tìm được mộ. Cả hai ông bà đã để lại cho cuộc đời hôm nay và mai sau tấm gương ngời sáng: “Trung thành với Tổ quốc, đặt đất nước lên trên hết”.

           - Tổ chức chọn Phùng Văn Cung, không phải theo công thức chung chung chọn mặt gởi vàng, mà chọn một con người có nhịp đập trái tim đồng nhịp với nhịp đập trái tim của Tổ quốc, không bị ngắt quảng, không ngoại tâm thu, không đột quỵ. Vượt qua mọi thử thách, kể cả về những đòn cân não, cả về cam go gian khổ, cả về tài sản, cuộc sống và hạnh phúc gia đình. Bởi ông hằng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và cũng không có gì quý bằng: “Lòng ta chung một cụ Hồ/Lòng ta chung một Thủ đô/ Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam”. (Tố Hữu).                                                

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          - Tư liệu của Lê Kim Hà nguyên Đại tá, bác sĩ Trưởng khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Quân y 175 qua thư điện tử, ngày 28/12/2012.

          - Bùi Thị Mè kể chuyện đời mình - Tập hồi ký của Bùi Thị Mè.

          - Nguyễn Hữu Châu - Luật sư Nguyễn Hữu Thọ - Hành trình yêu nước – cuốn bút ký của Nguyễn Hữu Châu, Trưởng nam của cố Luật sư chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ (Qua Nhà văn, nhà báo Đinh Phong - Tác giả gửi tặng).

          - Phùng Văn Cung một trí thức hết lòng vì nhân dân - Do Phùng Văn Hùng, cháu ruột của bác Năm Phùng Văn Cung (trao).

          - Nhà văn, nhà báo Đinh Phong gửi biếu sách, trao đổi một số tư liệu có liên quan đến Phùng Văn Cung: - Bốn mươi năm làm báo - Tập hồi  ký của Đinh Phong.

          Và một số tư liệu khác:

           - Bó hoa lòng của Nguyễn Thị Được.

          - Phùng Văn Cung “Người trí thức giàu lòng yêu nước” của Nguyễn Long Hồ.

          - Vài nét tư liệu về Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam- Người biên sọan: anh Tư Minh.

           - Khai thác trên mạng Internet: Bác sĩ Phùng Văn Cung- Một trí thức đức độ, tài năng và uy tín (25/11/2010)- Phùng Văn Cung- Bách khoa tòan thư mở Wikipedia (20/12/2012).

 


* Thầy thuốc ưu tú, Bác sĩ chuyên khoa II, nguyên Giám đốc Sở Y tế Vĩnh Long.

[1]Đinh Phong -“ Phùng Văn Cung một trí thức lớn hết lòng vì nhân dân”.

2Đinh Phong -“ Phùng Văn Cung một trí thức lớn hết lòng vì nhân dân”.

3 Nguyễn Hữu Châu “ Luật sư Nguyễn Hữu Thọ hành trình yêu nước” trang 201.

[4]Luật sư Nguyễn Hữu Thọ hành trình yêu nước (trang bìa) Nhà xuất bản trẻ - Phát hành Quý IV năm 2012.

[5] Nguyễn Hữu Châu, trang 203.

[6]Nguyễn Hữu Châu, trang 43 (trích lời Bí thư Thành ủy Thành Phố Hồ Chí Minh Võ Trần Chí, 1995).

[7]Nguyễn Hữu Châu,  Lời Nhà xuất bản (trang 5).         

[8] Bùi Thị Mè kể về chuyện đời mình- Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh - Phát hành tháng 5 năm 2001.

[9]Bùi Thị Mè, trang 265, 266, 267, 268.

[10]. Sau giải phóng, vượt biên và sống tại Pháp, chống lại dân tộc.

[11]Bùi Thị Mè, trang 265, 266, 267,268

[12]Nguyễn Hữu Châu - Nhà văn Thanh Nghị, trang 202.

[13]Nội dung này đã thông qua gia đình Nhà họ Phùng, tại số 113 khóm 1, phường 9, Thành phố Vĩnh Long - Cô Mười Hai Phùng Thị Nữ em ruột của BS Phùng Văn Cung kể lại.

[14]Nội dung này đã thông qua gia đình Nhà họ Phùng, tại số 113 khóm 1, phường 9, Thành phố Vĩnh Long - Cô Mười Hai Phùng Thị Nữ, em ruột của BS Phùng Văn Cung kể lại.

[15]Tư liệu của Bác sĩ Lê Kim Hà, cung cấp ngày 28-12-2012.

[16]Tư liệu của Bác sĩ Lê Kim Hà, cung cấp ngày 28-12-2012.

[17]Đinh Phong - “Phùng Văn Cung một trí thức lớn hết lòng vì nhân dân”.

[18]Đinh Phong - “Phùng Văn Cung một trí thức lớn hết lòng vì nhân dân”.

[19]Tư liệu của Bác sĩ Lê Kim Hà, cung cấp ngày 28-12-2012.

[20]Tư liệu của Bác sĩ Lê Kim Hà, cung cấp ngày 28-12-2012.

4Tư liệu của Bác sĩ Lê Kim Hà, cung cấp ngày 28-12-2012.

5Trả lời phỏng vấn của Phan Hoàng với nhà văn Trầm Hương Tiểu thuyết Đêm Sài Gòn không ngủ - Báo Sài Gòn giải phóng  chủ nhật 6-1-2013.

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Hồng Trung

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22


Hôm nayHôm nay : 324

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39377

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5707412