Trang nhất » Tin Tức » BLL các tỉnh thành

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Họ Phùng Văn, thôn Thắng Cựu, xã Phú Xuân, Tp. Thái Bình

Thứ bảy - 14/11/2015 19:28

Mộ Tổ họ Phùng Văn

thôn Thắng Cựu xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

 

Nhà thờ Tổ họ Phùng Văn

 

thôn Thắng Cựu, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

 

Quá trình hình thành và phát triển của dòng họ

Quá trình hình thành và phát triển dòng họ Phùng Văn tại thôn Thắng Cựu đã trải qua thời gian khá dài. Song những văn tự và tư liệu cũ không còn mấy do Nhà thờ Tổ bị giặc Pháp đốt phá trong những năm kháng chiến.

Nhà thờ tổ họ Phùng Văn được các cụ đời thứ 5 và thứ 6 xây dựng cách đây gần hai trăm năm và đã được trùng tu, nâng cấp nhiều lần. Nơi đây đã từng là cơ sở làm việc của cấp Ủy – Chính quyền xã thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Tháng 3 năm 1950, giặc Pháp, ngụy đã đem quân về vây ráp, đào bới hầm bí mật, bắt cán bộ, phá phách và đốt tộc phả cùng sắc phong của các cụ Tổ. Rất may còn sót lại quyển sổ cúng ghi bài vị từ cụ khởi tổ tới các cụ đời thứ 8.

Theo các cụ truyền lại thì quê gốc cụ khởi tổ  họ Phùng Văn ở tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây. Cụ khởi tổ xuất thân từ dòng tộc vốn có trình độ học vấn. Cụ đỗ cử nhân (trong sổ cúng ghi chức danh là Hàn lâm thi độc đại học sĩ, đồng tri phủ Lạng Giang tỉnh Bắc Giang) vào cuối đời hậu Lê (khoảng đời Lê Dụ Tông năm 1705 – 1729).

Tên thật của cụ khởi tổ ghi trong tộc phả bị giặc đốt cháy. Tên trong sổ cúng là húy tự Vô Tư;

Cụ thứ hai là nhà nho, húy tự Sùng Nghiêm;

Cụ thứ ba là sĩ quan quân đội triều đình nhà Lê với hàm cấp Đô úy chỉ huy sứ, húy Trinh Vũ.

Trước cảnh triều đình thời hậu Lê có nhiều bê bối. Chúa Trịnh tiếm quyền, lấn át vua tôi, nên hai cụ Phủ và cụ Đồ đã xin từ quan, từ chức. Song hai cụ không trở lại sinh sống tại quê nhà mà cả ba anh em cùng gia đình và một số anh em trong họ đã  về Thái Bình lập nghiệp tại thôn Thắng Cựu, tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đổi thành xã Tiền Phong, sau cải cách ruộng đất đổi thành xã Phú Xuân, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình. Nay là thôn Thắng Cựu, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Ba anh em cụ khởi tổ về lập nghiệp tại nơi đây, trừ cụ thứ 3 không lập gia đình, còn hai cụ đều đông con nhiều cháu.Các cụ đã thương yêu, đùm bọc, bó bện cùng nhau lập nghiệp và tạo dựng dòng tộc họ Phùng Văn tồn tại và phát triển như ngày nay.

Cụ khởi tổ sinh hạ được 5 con trai, phân chia thành 5 ngành.

Cụ Tổ ngành 1 là cụ Phùng Quý Công tự Phúc Tuy. Hiện anh Phùng Văn Kiên hậu duệ thứ mười một vừa là Trưởng tộc vừa là trưởng ngành.

Cụ Tổ ngành 2 là cụ Phùng Quý Công tự Phúc Uyển. Hiện anh Phùng Văn Lật hậu duệ thứ mười một là trưởng ngành.

Cụ Tổ ngành 3 là cụ Phùng Lệnh Công tự Ôn Hòa. Hiện anh Phùng Văn Thu hậu duệ thứ mười một là trưởng ngành.

Cụ Tổ ngành 4 là cụ Phùng Quý Công tự Đình Vực. Hiện ông Phùng Văn Túc hậu duệ thứ mười làm trưởng ngành.

Cụ Tổ ngành 5 là cụ Phùng Quý Công tự Văn Hoành. Ngành 5 đã di chuyển xuống lập nghiệp tại xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải từ thời cụ Nguyễn Công Trứ chỉ đạo khai hoang lấn biển (1820 – 1840).

Như vậy, họ Phùng văn là một trong những dòng họ có mặt khá sớm và là dòng họ có dân số tương đối đông trong tổng số 14 dòng họ tại Thắng Cựu ngày nay.

Nhìn lại dòng tộc thời kỳ ban đầu, tuy đa đinh, đa ngành song do thời  kỳ phong kiến, đế quốc, tình hình kinh tế khó khăn, y tế lạc hậu việc phòng và chữa bệnh không tốt nên sinh nhiều thọ ít. Mặt khác do quy luật phát triển không đều nên có ngành phát triển nhanh như ngành 3 (chiếm 50% số hộ và nhân khẩu trong họ), trong khi đó, có ngành mỗi thế hệ chỉ 1-2 người kế tiếp như ngành 1, ngành 5.

Do bị chế độ thực dân, phong kiến áp bức bóc lột, như nhiều dòng họkhác, dòng họ Phùng Văncũng có nhiều người đã phải tha phương cầu thực ở khắp nơi trong Nam, ngoài Bắc để kiếm sống. Có người phải bán mình cho bọn tư bản làm phu phen đồn điền tại các vùng thuộc địa của chúng, có đi mà không có về. Nhất là vào những năm 1939 – 1945, thực dân Pháp và phát xít Nhật cùng nhau vơ vét tài nguyên, thu gom lúa gạo, bọn địa chủ cường hào tích trữ lương thực nên hàng trăm dân làng già, trẻ, lớn, bé đã chết đói một cách thảm thương (cả tỉnh Thái Bình có 25 vạn người chết đói). Trong dòng tộc họ Phùng Văn có hàng chục gia đình đã chết đói gần hết cả nhà, có gia đình không còn người nào nối dõi tông đường; không ít người đã chết vạ vật tại các đầu đường xó chợ ở các nơi xa, không còn biết phần mộ nơi đâu.

Thảm họa chết đói năm 1945 đã để lại niềm xót thương, nỗi căm hờn uất hận không thể nào quên đối với các thế hệ còn lại và các thế hệ kế tiếp.

Từ sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, cùng với cả dân tộc, người họ Phùng Văn thoát khỏi cảnh áp bức bóc lột của bọn thực dân phong kiến. Ai nấy đã được thực sự làm người, đã có ruộng cấy, trâu cày, được tham gia mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, không còn cảnh đói rách lầm than cơ cực.

Hiện nay, 100% số gia đình trong dòng họ đã đủ ăn, đủ mặc, không còn cảnh đói cơm, rách áo với túp lều xiêu vẹo như trước; tất cả đã có nhà ngói hoặc mái bằng, hoặc 2 tầng khang trang, đầy đủ tiện nghi; có điện thắp sáng và nước sạch để dùng.

Các con cháu đang sinh sống, công tác và lao động ở các tỉnh ngoài đều thành đạt và có cuộc sống khá giả.

 

Hiện dòng họ đang tồn tại 5 thế hệ từ thứ 9 đến thứ 13. Thế hệ thứ 9 chỉ còn rất ít và thế hệ thứ 13 mới có hơn chục cháu thuộc ngành 3 và ngành 4.

Những đóng góp của dòng họ cho quê hương, đất nước

Qua sổ sách ghi chép lại và qua các cụ đời kế tiếp kể lại thì Cụ khởi tổ cũng như các thế hệ kế tiếp luôn thể hiện đức nhân nghĩa, sống có đức độ, thương người khó và tương trợ giúp đỡ người khác. Việc làm điển hình nhất còn để lại tiếng tốt đến ngày nay và chắc là mãi mãi sau này là cụ Tổ đã bỏ ra gần một mẫu ruộng, dành một nửa làm nơi an táng các cụ và dành một nửa để an táng thân nhân những bà con trong làng không có ruộng (thời đó, ai không có ruộng đất, khi chết nếu không nhờ được ruộng của người khác thì phải chôn cất ở bờ bụi rất cảm cảnh). Chính từ lòng nhân ái của cụ Tổ mà dân làng mới đặt tên nghĩa trang là gồ Mả Phủ (tức là gồ cụ tri phủ gồm gồ Mả Phủ trên là mộ cụ Tổ và gồ Mả Phủ dưới là phần mộ những người mất trong thôn). Địa danh gồ mả phủ hình thành và lưu truyền gần 300 năm nay hiện nằm về phía bắc và chiếm một phần khá rộng tại nghĩa trang thôn Thắng Cựu ngày nay.

Do chán cảnh chốn quan trường nên các thế hệ kế tiếp ít ham mê đèn sách thi cử. Trong sổ cúng ghi lại chỉ có:

Cụ Phùng Văn Uông đỗ tú tài;

Các Cụ Phùng Văn Hồ, Phùng Văn Chuẩn, Phùng Văn Trầm đỗ nhất, nhị trường;

Các cụ có trình độ khóa sinh tương đối nhiều;

Đặc biệt có cụ Phùng Văn Nham có trình độ học vấn rộng và sắc sảo, tuy không đỗ đạt cao, nhưng đã được nhà vua phong sắc “Thụ thập lý hầu”.

Số các cụ làm quan lại và chức dịch trong thôn, xã không nhiều. Ngoài cụ khởi tổ là tri phủ và cụ đô úy chỉ huy sứ còn có cụ Phùng Văn Dĩnh là đội trưởng Đội Cấm binh của triều đình.

Các cụ làm chức dịch trong thôn, xã gồm có:

Cụ Phùng Văn Duy làm phó tổng;

Các cụ Phùng Văn Chức, Phùng Văn Chu, Phùng Văn Đức, Phùng Văn Bằng, Phùng Văn Hân làm lý trưởng;

Các cụ Phùng Văn Khóa, Phùng Văn Dụ làm phó lý.

Tuy là chức dịch, nhưng các cụ đều thuộc tầng lớp trung nông, ruộng đất ít, song vì có trình độ văn hóa, có năng lực và uy tín nên đã giành được vị trí nhất nhì trong thôn, xã.

Như vậy, trong thời kỳ phong kiến, đế quốc, các thế hệ trước không có ai là địa chủ cường hào, không có ai có hành động đàn áp, bóc lột nên không cụ nào để lại những điều tiếng không tốt với làng, xã; được nhân dân quý mến và chức dịch trong thôn, xã vị nể.

Nhờ hồng phúc của Tổ tiên, các thế hệ nối tiếp đã giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của dòng tộc. Nhất là trên nửa thế kỷ nay, được Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dìu dắt nên từ thế hệ thứ 8 đến nay, các cụ đã động viên con cháu đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau làm kinh tế, học tập và tham gia các hoạt động chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội ngày càng làm rạng rỡ, vẻ vang cho dòng tộc.

Với lòng yêu nước, ý chí bất khuất, không chịu sống trở lại đời nô lệ; lớp sau kế tiếp lớp trước, đã có hơn 40 con em trong họ ra nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, nhiều người đã phấn đấu trở thành sĩ quan trong quân đội.

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã có 14 con em hiến dâng thân mình cho Tổ quốc, cho dân tộc. Trong số liệt sĩ trên có 1 là cán bộ chính trị hy sinh trong khi làm nhiệm vụ là ông Phùng Văn Tăng, cán bộ thông tin tuyền truyền xã và bà Phùng Thị Nhung là thanh niên xung phong và 12 là bộ đội.

Danh sách các liệt sĩ được ghi trong sổ vàng và bia đá gồm:

Liệt sĩ Phùng Văn Tăng con cụ Phùng Văn Loạt;

Liệt sĩ Phùng Văn Nghi con cụ Phùng Văn Loát;

Liệt sĩ  Phùng Văn Giá con cụ Phùng Văn Tạo;

Liệt sĩ Phùng Văn Hưng con cụ Phùng Văn Khánh;

Liệt sĩ Phùng Văn Căn con cụ Phùng Văn Thiện;

Liệt sĩ Phùng Thị Nhung con cụ Phùng Văn Vạn;

Liệt sĩ Phùng Văn Úy con ông Phùng Văn Lập;

Liệt sĩ Phùng Viết Sơn con ông Phùng Tất Thái;

Liệt sĩ Phùng Nam Hà  con ông Phùng Tất Thái;

Liệt sĩ Phùng Văn Định con cụ Phùng Trí Phú;

Liệt sĩ Phùng Văn Ùy con bà Phùng Thị Gái;

Liệt sĩ Phùng Văn Nghị thuộc ngành 5 định cư tại Đông Hoàng, Tiền Hải;

Liệt sĩ Phùng Văn Tân thuộc ngành 5 định cư tại Đông Hoàng, Tiền Hải;

Liệt sĩ Phùng Văn Thực thuộc ngành 5 định cư tại Đông Hoàng, Tiền Hải;

Như vậy, họ Phùng Văn với dân số chỉ gần bằng ¼ dân số trong thôn, song số người tham gia quân đội và số liệt sĩ chiếm trên 1/3. Đặc biệt là cả xã chỉ có một nữ liệt sĩ là người họ Phùng Văn..

Đến nay, gần 100 người đã tốt nghiệp đại học và trên đại học hiện đang làm việc tại nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau (không kể hàng chục cháu còn đang học tại các trường đại học và cao đẳng).

Hơn 50 người có trình độ cao đẳng và trung cấp và nhiều người tốt nghiệp trung học phổ thông; số đông các cháu khác học hết phổ thông cơ sở đang lao động sản xuất tại địa phương.

Có 35 người đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, có người được thưởng 2 – 3 huân chương các loại.

Phát huy truyền thống của ông cha, hiện nay các thế hệ con cháu họ Phùng Văn đang ra sức học tập, lao động, kinh doanh để làm giàu cho gia đình và đóng góp cho đất nước.

Một điều đáng mừng là tất cả các thế hệ trước, không có ai thuộc giai cấp bóc lột, không gây tội ác với nhân dân, không bị nhân dân oán trách.

Trong những năm bị giặc Pháp chiếm đóng, không có ai làm hội tề, tay sai hoặc đi lính ngụy cho Pháp và suốt thời kỳ dưới chế độ dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ai vi phạm pháp luật phải đưa ra truy tố. Đặc biệt là trong tình hình xã hội hiện nay, đang có những suy thoái về mặt đạo đức, phẩm giá, song nhìn chung con cháu, nhất là thanh, thiếu niên trong họ đều giữ được bản chất tốt đẹp của dòng tộc mình. Hầu hết đều chăm chỉ học hành, chịu khó lao động sản xuất, hăng hái công tác; chấp hành tốt chính sách pháp luật, ít có những biểu hiện đua đòi sa đọa, cờ bạc, nghiện hút để tiếng xấu cho gia đình, cho dòng họ.

 Những công việc con cháu hiện đã và đang làm để duy trì và phát huy truyền thống cha ông.

Tưởng nhớ công đức của Tổ tiên, với đạo lý uống nước nhớ nguồn, trong mấy năm qua, con cháu trong họ đã cùng chung sức, đồng lòng làm được mấy việc lớn như sau:

Với tấm lòng đau đáu hướng về cội nguồn, các thế hệ con cháu luôn trăn trở việc tìm về Tổ tiên, sau nhiều lần đi tìm, năm 2012 con cháu họ Phùng Văn tại Thắng Cựu đã tìm về họ Phùng Văn tại làng Bùng, Phùng Xá, Thạch thất để nhận họ và từ đó đến nay, hàng năm con cháu đều về giỗ tổ tại làng Bùng. Việc này đã làm cho con cháu thuộc 2 chi họ vô cùng  phấn khởi, tự hào và thắt chặt thêm tình cảm trong dòng họ.

Con cháu trong họ, người hiến đất, người hiến công sức, tiền của để trùng tu, nâng cấp nhà thờ tổ vững chắc, trang nghiêm, rộng  rãi hơn; xây lăng mộ tổ to đẹp, bề thế hơn. Đây là điều phấn khởi và là niềm tự hào của dòng họ và chứng tỏ việc khó, việc lớn đến mấy, nếu trong họ đồng lòng, nhất trí thì đều hoàn thành tốt đẹp.

Hàng năm, vào ngày giỗ Tổ (mồng 8 tháng 10 âm lịch), con cháu cả nam và nữ đều về họp mặt khá đông đủ để tưởng niệm Tổ tiên và trao đổi luận bàn, quyết định những vấn đề trong họ cùng quan tâm.

Riêng các ngày tuần, tiết như tết nguyên đán, thanh minh, đông chí, rằm tháng 7… thường có đông đủ đại diện các ngành, các chi tới nhà thờ lễ Tổ.

Các con cháu ở xa, mỗi khi về thăm quê hương đều đến thắp hương trước mộ Tổ và trước bàn thờ Tổ tỏ lòng thành kính và tưởng nhớ công ơn của Tổ tiên.

Đã xây dựng được quỹ tình nghĩa để thăm hỏi anh em trong họ lúc ốm đau và phúng viếng tiễn biệt nhau khi qua đời. Điều này thể hiện tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau trong dòng tộc và có tác dụng giáo dục các thế hệ kế tiếp noi gương.

Họ cũng đã lập được quỹ khuyến học, hàng năm vào dịp giỗ Tổ, quỹ khuyến học đã tổ chức tuyên dương và khen thưởng cho các cháu có thành tích học tập tốt nhằm động viên con cháu trong họ cố gắng học tập để lập thân, lập nghiệp.

Những việc làm trên thể hiện tất cả tấm lòng con cháu trong họ đều hướng về cội nguồn, về Tổ tiên và luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, kính trọng quý mến nhau trong dòng họ.

 

Bài viết dựa trên tài liệu của dòng họ Phùng Văn tại Thôn Thắng Cựu, xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

Tác giả bài viết: Phùng Văn Huấn (thôn Thắng Cựu, xã Phú Xuân, Tp. Thái Bình)

Nguồn tin: www.hophungvietnam.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay : 353

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39406

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5707441