Trang nhất » Tin Tức » BLL các tỉnh thành

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Kể về người Anh hùng gác đèn biển năm xưa

Thứ năm - 20/04/2017 06:31

KIM CHI

Năm 2000, tôi may mắn được gặp và trò chuyện với ông Phùng Văn Bằng - thần tượng một thời của chúng tôi những năm 60-70 của thế kỷ trước. Khoảng một năm sau thì hay tin ông mất do bạo bệnh… Từ đó đến nay thấm thoắt đã mười lăm năm trời.

Xin được chia sẻ câu chuyện cảm động này, thay cho nén nhang thơm thành kính tưởng nhớ người Anh hùng Lao động gác đèn biển đầu tiên của nước ta.

Vào một buổi chiều tháng 3 năm 2000, tôi tới phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng hỏi thăm địa chỉ nhà ông Phùng Văn Bằng. Dân quanh vùng đều biết nhà ông, họ sốt sắng chỉ dẫn tỉ mỉ nên đường đến nhà ông tuy lắt léo, hẻo lánh nhưng tôi vẫn dễ dàng tìm được. Đập vào mắt tôi là mô hình hải đăng đặt trước nhà và dải tường bao quanh bờ ao có gắn bức phù điêu hình những đèn biển Long Châu, Hòn Dáu, Nam Triệu… đã một thời gắn bó với cuộc đời đầy sóng gió của ông.

Anh hùng Lao động Phùng Văn Bằng đang cặm cụi làm gì đó trước bàn, dáng ông thấp đậm, chắc nịch, nước da vẫn đỏ au - nét đặc trưng của dân biển. Biết mục đích chuyến đến thăm của tôi, ông vui vẻ tâm sự chuyện đời mình…

Ở nơi đầu sóng…

Ông sinh năm 1936, quê ở Hải Dương, có người bác hoạt động chống Pháp, bị giặc bắn chết, cả gia đình phải lưu lạc ra Hải Phòng. Năm 1955, ông vào làm tại Ty Bảo đảm hàng hải, lúc đầu được phân công công tác tại tổ phao, tàu Hòn Dấu rồi đảo Dáu. Năm 1958, ông về quê xây dựng gia đình, hai vợ chồng đưa nhau ra Hải Phòng lập nghiệp, rồi sau đó là chuỗi ngày biền biệt xa nhà: Đầu tiên là ra đảo Long Châu, sau ra Nam Triệu và ở đó suốt 7 năm đơn độc, mấy tháng mới về đất liền một lần. Nhưng cũng từ những thử thách gian nan nghiệt ngã đó, những phẩm chất kiên cường dũng cảm, kiên trì bền bỉ và chủ động trong công việc của ông có dịp bộc lộ…

Do có trình độ văn hóa lớp 4 (Thời bấy giờ, những công nhân biết đọc biết viết rất hiếm, nên trình độ văn hóa lớp 4 được cho là khá), ông được chọn làm giáo viên dạy bổ túc văn hóa cho 5 nhà đèn trong tổ đèn Nam Triệu. Suốt mấy năm liền, ông tự mình chèo thuyền đi dạy bình dân học vụ từ nhà đèn này sang nhà đèn khác, trong khi vẫn phải thực hiện nhiệm vụ chính. Trong điều kiện phương tiện vận chuyển thiếu thốn mọi bề, một mình ông chèo thuyền đi thắp đèn, đi nhận tiếp phẩm của đơn vị (cách xa hàng chục dặm)… Một mình trên con thuyền nhỏ bé giữa biển cả bao la với bao hiểm nguy rình rập…, có lúc tưởng chừng như sóng biển nuốt gọn con thuyền mỏng manh kia, nhưng ông vẫn kiên trì bám biển, không rời vị trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đảm bảo ngọn hải đăng luôn tỏa sáng… 

Một vinh dự lớn đã đến với ông: Năm 1962, ông được Nhà nước phong tặng Anh hùng Lao động (Quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 05/3/1962). Khi đó ông vừa tròn 26 tuổi. Năm 1985, Tổ đèn Nam Triệu của ông cũng được phong tặng danh hiệu Tập thể Anh hùng Lao động.

Năm 1965, ông được điều ra đảo Dáu làm Đoạn trưởng, phụ trách các trạm đèn, trạm luồng từ Đầu Tán (Hòn Gai) đến tận cửa sông Ninh Cơ (Nam Định). Đây là thời kỳ kẻ thù leo thang bắn phá miền Bắc hết sức ác liệt. Cảng Hải Phòng - một cảng biển quốc tế, đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc nên là tâm điểm máy bay Mỹ tập trung bắn phá suốt ngày đêm, thả thủy lôi dày đặc nhằm phong tỏa Cảng. Ông Phùng Văn Bằng lại lao vào cuộc chiến mới: Cuộc chiến chống phong tỏa với lời thề nổi tiếng của người Bảo đảm hàng hải “Còn người, còn đảo, trái tim còn đập, đèn còn sáng”… Ông cùng đồng đội điều động, chỉ huy đội tàu đi tiếp tế, thắp đèn… dưới làn mưa bom bão đạn. Thời gian này ông được Bộ trưởng Bộ GTVT tặng bằng khen vì đã có thành tích “xuất sắc, dũng cảm tháo gỡ thủy lôi, mở đường thông tuyến, đảm bảo vận tải hàng hóa tốt”.

Năm 1978, ông chia tay với biển, lên bờ nhận nhiệm vụ mới: Bí thư Đảng ủy Công ty Bảo đảm hàng hải cho đến lúc nghỉ hưu. Nối nghiệp cha, ba người con trai của ông cũng đều công tác tại ngành Bảo đảm an toàn hàng hải.

Tôi tò mò hỏi ông: “Thời gian ông công tác ngoài đảo, điều gì ông cảm thấy khó vượt qua nhất?”, ông trả lời ngay không chút đắn đo: “Sự cô đơn, buồn tẻ, lẻ loi..., nhất là những buổi chiều. Biển chiều đẹp lắm, nhưng buồn… Cụ Nguyễn Du đã tả “Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa…” thật đúng với tâm trạng của tôi… Hồi đó tôi mới xây dựng gia đình đã phải đi công tác xa nhà. Tôi thường nhìn về phía Hải Phòng, nhớ vợ con, nhớ nhà da diết. Lại nữa, tiếng sóng vỗ triền miên như nhấn mãi vào nỗi cô đơn của tôi, trở thành nỗi ám ảnh dai dẳng trong tâm trí. Cho đến bây giờ xa biển nhiều năm rồi mà tôi như vẫn còn nghe thấy tiếng sóng vỗ ì ầm vào vách đá… Còn nguy hiểm ư, nó luôn hiện hữu, rình rập: một mình một thuyền trên biển, nếu gặp lúc biển động bất chợt thì chỉ sơ sẩy chút thôi là bị lật thuyền, mất mạng như chơi!

Tôi chợt nhận ra đằng sau cái dáng vẻ thô ráp sù sì của ông là một tâm hồn nhạy cảm, có lúc yếu đuối như bất kỳ ai… Vậy ông đã làm thế nào để có đủ nghị lực để chịu đựng và sống ngần ấy năm quạnh hiu trên đảo như chàng Robinson Việt Nam vậy?

Tôi chuyển sang đề tài khác, cắt ngang dòng suy tư của ông:

- Nhà nước đã trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Bộ GTVT cũng tặng bằng khen cho những đơn vị và cá nhân có thành tích trong cuộc chiến chống phong tỏa, chắc ông cũng được nhận bằng khen?

Ông thoáng ngập ngừng:

- Hồi còn công tác, tôi cũng được Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ tặng bằng khen, nhưng đợt vừa rồi thì không thấy nói gì… Chắc họ sẽ bổ sung đợt sau thôi…

Hai lần gặp Bác Hồ

Khi được hỏi về những kỷ niệm sâu sắc của đời mình, như khơi đúng mạch tâm sự, gương mặt đăm chiêu của ông bỗng linh hoạt hẳn lên: Đó chính là hai lần tôi may mắn được gặp Bác Hồ…

Lần đầu vào dịp Đại hội Thi đua toàn quốc hồi tháng 5/1962 tại Hà Nội, tôi cùng các đại biểu được vào Phủ Chủ Tịch gặp Bác. Bác đang ân cần thăm hỏi mọi người, bỗng quay ra hỏi: “Chú nào là chú Bằng?”, tôi vội đứng lên thưa: “Dạ thưa Bác, cháu ạ”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi đó cũng có mặt, đỡ lời: “Thưa Bác, chú Bằng là thanh niên xung phong ra công tác ở đảo đèn, có nhiều nét độc đáo lắm ạ”. Bác nhìn tôi mỉm cười thật hiền rồi hỏi “Chú ra đảo đèn lâu chưa?” “Dạ, hơn 6 năm rồi ạ”… Bác lại hỏi: “Thế đèn đốt bằng gì?” “Thưa Bác, đốt bằng pin, ắc-quy và dầu hỏa ạ”. Bác chăm chú nghe rồi căn dặn tôi: “Cháu về cùng với anh em tìm cách cải tiến và đảm bảo ánh sáng tốt hơn để tàu bè trong nước và nước ngoài ra vào cảng an toàn, đừng lúc nào để đèn tắt. Đèn tắt là nguy hiểm lắm đấy”… Bác trò chuyện với tôi thật giản dị, chu đáo như một người cha ân cần dặn dò con, tôi cảm thấy vui sướng vô cùng. Những giây phút đó suốt đời tôi không thể nào quên…

Lần thứ hai tôi được gặp Bác tại Đại hội Thi đua “Quyết tâm đảm bảo giao thông, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” tổ chức tại Hà Nội vào tháng 3 năm 1966. Tôi được vinh dự ngồi ngay sau Bác, được ngắm nhìn kỹ càng, được nghe rất rõ từng lời của Bác. Tôi còn nhớ như in lời Bác dạy: “Giao thông vận tải là một mặt trận, mỗi cán bộ, thanh niên, xã viên vận tải là một chiến sỹ, quyết tâm làm cho giao thông vận tải thắng lợi là chúng ta thắng lợi phần lớn rồi…”.

Làm theo lời dạy của Bác, suốt 55 năm qua, ánh sáng từ những ngọn hải đăng của Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam luôn tóa sáng lung linh trên khắp các vùng biển của Tổ quốc. Đã lùi xa vào dĩ vãng những ngọn hải đăng thắp bằng đèn dầu, thay vào đó, những ngọn hải đăng được thắp sáng bằng năng lượng mặt trời, vận hành bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại, được điều khiển từ xa... Cuộc sống vật chất và tinh thần của những công nhân gác đèn biển cũng đã được cải thiện rất nhiều so với thời kỳ “Ăn truyền thống, uống tiềm năng” của ông. Những thế hệ nối tiếp sau ông đã kế thừa một cách xứng đáng truyền thống hào hùng vẻ vang của Bảm đảm an toàn hàng hải Việt Nam.

Nói chuyện với ông, tôi thấy ông còn rất nặng lòng với biển, với đảo đèn, như một niềm đam mê không thể tách rời khỏi cuộc sống của ông: Mọi kỷ vật về biển, đảo đèn, những tấm ảnh gặp Bác Hồ… được ông đặt ở những nơi trang trọng nhất trong căn nhà giản đơn của mình. Nhớ lời tâm sự của ông khi tiễn tôi ra về: “Khi ở đảo thì nhớ nhà, khi về nhà lại thèm ra biển đảo…”, tôi chợt hiểu vì sao ông lại chọn mảnh đất hẻo lánh “Trăng vàng đầy ngõ, gió mênh mông” này làm nơi cư ngụ cho những năm tháng cuối đời mình…

 

Nguồn tin: vinamarine.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay : 341

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39394

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5707429