Trang nhất » Tin Tức » Thông báo

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

BAN LIÊN LẠC MỜI VIẾT BÀI

Thứ hai - 05/10/2015 17:10
Ban Liên lạc họ Phùng Việt Nam đang tiến hành biên soạn, in ấn tập sách HỌ PHÙNG VIỆT NAM - TẬP 2. Trân trọng kính mời các nhà sử học, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, các cây viết trong và ngoài dòng họ tham gia viết về các danh thần, danh tướng, danh nhân họ Phùng trong lịch sử. Đặc biệt cần các bài về các chi họ Phùng cụ thể, các nhà thờ họ các vùng miền. Sau đây là bài viết mẫu về nhà thờ họ Phùng ở Ba Vì - Hà Nội. Kính mong người viết theo cách viết khoa học này để tiện đưa vào sách.

 

DI TÍCH NHÀ THỜ HỌ PHÙNG THÔN KIM BÍ, XÃ TIÊN PHONG, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

(Theo Ban quản lý Di tích danh thắng - Sở văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội)

 

Nhà thờ họ Phùng thôn Kim Bí, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội còn có tên gọi khác: Căn cứ vào ba chữ Hán “Tiến sĩ từ” - Đền thờ Tiến sĩ, ghi trên cổng vào của di tích, chúng tôi cho rằng ban đầu nơi đây được xây dựng để thờ Tiến sĩ Phùng Thế Trung - cụ tổ ngành thứ nhất của dòng họ Phùng tại thôn Kim Bí. Về sau, dòng họ đã dùng đền thờ để là nơi sinh hoạt, thờ cúng, của cả họ và cho đến nay, trong tiềm thức của dòng họ cũng như người dân nơi đây vẫn gọi di tích là nhà thờ họ Phùng. Hồ sơ khoa học này thống nhất tên gọi là Nhà thờ họ Phùng.

PHÂN LOẠI DI TÍCH

1. Loại hình di tích

Nhà thờ họ Phùng là một công trình kiến trúc tín ngưỡng, nơi phụng thờ của gia tộc họ Phùng tại thôn Kim Bí; nơi tưởng nhớ vinh danh vị Tiến sĩ thời Lê - Phùng Thế Trung (Triết). Căn cứ các kết quả khảo sát, nghiên cứu về di tích, phân loại di tích theo các tiêu chí xếp loại tại điều 11 Nghị định số 98/2010/NĐ - CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa, xét theo giá trị nổi bật, nhà thờ họ Phùng thuộc loại: Di tích lịch sử - Lưu niệm danh nhân.

2. Niên đại xây dựng và những lần trùng tu sửa chữa

Hiện không còn tư liệu nào ghi rõ năm xây dựng nhà thờ họ Phùng, trong quá trình khảo cứu tại di tích chúng tôi căn cứ vào lời kể của các vị cao niên trong dòng họ cùng hiện trạng kiến trúc và hệ thống di vật còn bảo lưu như sắc phong niên đại Vĩnh Tộ 8 (1626), niên hiệu Đức Long nguyên niên (1629)…, nhận định nhà thờ họ Phùng được khởi dựng vào thời Lê, song trải qua thời gian và những biến thiên của lịch sử, di tích đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa, kiểu thức kiến trúc hiện tồn là sản phẩm của lần trùng tu ở thế kỷ XIX và những năm gần đây.

SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH

1. Đôi dòng về xã Tiên Phong, huyện Ba Vì

Tiên Phong là một xã thuộc vùng trung du bán sơn địa, nằm về phía Đông nam của huyện Ba Vì. Sau Cách mạng tháng 8/1945, ngày 06/10/1948, xã Tiên Phong được thành lập gồm bốn thôn Kim Bí, Bằng Lũng, Thanh Lũng và Vị Nhuế. Năm 2001, thôn Đông Phong được thành lập nên xã hiện gồm 5 thôn: Kim Bí, Thanh Lũng, Bằng Lũng, Vị Nhuế và Đông Phong. Đây là mảnh đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, với bề dày văn hóa cổ được khẳng định qua các công trình văn hóa tín ngưỡng có giá trị độc đáo, làm nên vẻ đẹp cho vùng quê xứ Đoài, đó là đình Thanh Lũng (kiến trúc thời Mạc), đình Đoài (Kim Bí)… Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân và các dòng họ trong xã đã đoàn kết khai phá đất đai, dựng xóm lập làng. Mảnh đất Tiên Phong, trải qua nhiều thế kỷ, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam đã nuôi dưỡng và sản sinh ra nhiều nhân tài, những người học rộng tài cao, đỗ đạt trong các kỳ thi để bổ xung vào các chức quan giữ trọng trách trong triều đình, tiêu biểu như Đỗ Công Cẩn sinh năm 1468 ở Thanh Lũng, đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất (1490), niên hiệu Hồng Đức thứ 21, đời Lê Thánh Tông, và Phùng Thế Trung, sinh tại làng Kim Bí, đỗ tiến sĩ khoa Quý Hợi (1623), niên hiệu Vĩnh Tộ 5, đời Lê Thần Tông.

Tiên Phong có dòng sông Tích chảy qua nên thuận tiện cho việc giao thông và tạo thế độc đạo về mặt quân sự. Vì vậy, nơi đây đã từng là khu vực hoạt động của các lực lượng khởi nghĩa yêu nước trong vùng.

2. Về dòng họ Phùng

Trong lịch sử phát triển của xã hội thì dòng họ được hình thành và phát triển từ lâu. Họ Phùng nói chung là một dòng họ có nhiều nhân tài với những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc. Đất phát tích của họ Phùng được cho là ở Đường Lâm với sự nổi lên của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (ở thế kỷ VIII), một trong những vị vua anh minh, hiền sáng bậc nhất của dân tộc Đại Việt. Trải qua các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần - Nguyễn và hiện nay họ Phùng lúc nào cũng có những danh thần, danh tướng phò tá đất nước. Lớp con cháu họ Phùng ngày nay luôn tự hào về tổ tiên và các thế hệ cha ông đi trước.

3. Về dòng họ Phùng thôn Kim Bí, xã Tiên Phong

Khảo sát thực địa cho thấy, thôn Kim Bí ngày nay có bốn họ lớn: họ Phùng, họ Trần, họ Nguyễn, họ Trương. Trong đó họ Phùng tính đến nay có 17 đời với 5 ngánh, 15 chi, tổng số khoảng 400 đinh. Bản dịch gia phả của dòng họ chỉ biết rằng thủy tổ họ Phùng là người bản xã, hiệu Chân Tranh, là bố của Phúc Sơn. Từ đời ông trở về trước các đời có nhiều sự tích khó khảo, tuy có công lao thành tích lớn, không thể khảo cứu được. Theo các nguồn tư liệu xác tín như 05 đạo sắc phong cổ còn lưu tại di tích, 01 bản sao cuốn gia phả, văn bia của nhà thờ được khắc lại theo nội dung văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám… thì họ Phùng là dòng họ lâu đời có nhiều người thành danh, đỗ đạt và có công lao với dân, với nước. Hồ sơ này, chúng tôi xin được giới thiệu một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ như: Tiến sĩ Phùng Thế Trung, Chánh nhất phẩm Phùng Thế Quý, Tri phủ Phùng Thế Khanh…

Các nhân vật hiển danh của dòng họ

Tiến sỹ Phùng Thế Trung

Phùng Thế Trung tục gọi là Trạc, tự là Thận Trai, lúc nhỏ có tên là Phùng Đốn, sau gọi là Phùng Thế Triết, nhưng vì chữ Triết trùng với miếu hiệu Triết vương của Trịnh Tùng nên đổi thành chữ Trung, thuộc đời thứ 8 của dòng họ. Từ nhỏ đã tỏ rõ là người giỏi văn thơ, tính tình cương nghị, phong thái đĩnh đạc, dáng dấp uy nghi của người quân tử, chịu khó đọc sách thánh hiền, thậm chí học cả dưới ánh đèn đom đóm qua cửa sổ nên sách nào của Khổng Tử, Kinh dịch, sử kí Tư Mã Thiên đều thông nghĩa… Bởi vậy danh tướng thơm lừng, sớm đỗ đại khoa… Ông đỗ thi hương năm Ất Mão triều Lê Trung Hưng khi 31 tuổi, đến khoa Nhâm Tuất, Vĩnh Tộ 4 (1622) có việc nước nên chưa kịp dự thi. Khoa thi Hội năm Quí Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1623) đỗ Tiến sỹ, tên ghi ở Đệ tam khoa này… Về lai lịch và hành trạng của tiến sỹ hiện còn một số tư liệu có ghi lại, chúng tôi xin trích dẫn một vài cứ liệu và đầu sách dưới đây:

Sách “Văn bia tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Giám Thăng Long”. Ngô Đức Thọ. Nxb Hà Nội. Năm 2000. Tr. 446 cũng nói đến: Ngày lành tháng tư mùa hạ, Hoàng thượng ngự ở cửa điện Kính Thiên, ra bài văn sách ở sân rồng. Trong khi các sĩ tử làm bài, bỗng có Nguyễn Trật làm văn hơi sai thể thức, nên chỉ có 6 quyển được khảo duyệt mà thôi. Các quan hữu ty dâng quyền tiến đọc. Hoàng thượng ngự lãm, lấy Phùng Thế Trung đỗ đầu, 6 người còn lại đều cho đỗ đồng tiến sỹ xuất thân. Vả lại xét theo lệ cũ, những người được vào thi Đình thì không bị truất nên vẫn cho Nguyễn Trật đỗ cuối bảng, tất cả là 7 người…

Trong bản sắc phong tại nhà thờ có ghi:

Sắc cho Mậu Lâm lang, Hiến sát sứ đạo Thanh Hoa [Thanh Hóa ngày nay], trung liên là Phùng Thế Trung, do là người rất có tâm thuật, làm tốt công việc, nghị thần nghị bàn, ưng thăng làm chức Hiến sát sứ, vậy thăng làm: Mậu lâm lang, Hiến sát sứ thuộc ti Thanh hình Hiến sát sứ thuộc các xứ ở Kinh Bắc, trung liên.

Vậy ban sắc!

Ngày 11 tháng 12 năm Đức Long nguyên niên”.

Sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam” của Lê Đức Thọ, trang 530 cho biết: “Phùng Thế Triết người xã Kim Bí huyện Tiên Phong - Nay là thôn Kim Bí xã Tiên Phong huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây.

39 tuổi đỗ Tiến sỹ xuất thân khoa Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1623) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Hiến sát sứ.

Tìm hiểu về chức quan Hiến sát sứ được biết người giữ chức vụ này là trưởng quan của Hiến sát sứ ty. Theo quan chế thời Hồng Đức, chức Hiến sát sứ chức vụ là đàn hặc, xét hỏi, khám đoán, hội đồng kiểm soát, khảo khóa, tuần hành… Thời Bảo Thái, Hiến sát sứ hàm Chánh lục phẩm.

Đối với người dân Kim Bí cũng như dòng họ Phùng ngày nay vẫn còn truyền miệng nhau một giai thoại nói về việc thi cử của cụ Nghè Phùng Thế Trung như sau: Khi xưa, làng Kim Bí lúc đó thuộc tổng Tây Đằng, cụ Phùng Thế Trung tuổi còn nhỏ, đi học trong làng, không hiểu sao lớp học chỉ có 4 người: Cụ Phùng Thế Trung, cụ Giang Văn Minh, cụ Lã Thời và một cụ người đông viên (Cụ này sau đó đã bỏ học).

Người thầy dạy học không rõ lai lịch, chỉ biết rằng khi các trò đến lớp là thấy thầy đã đến rồi. Cụ Phùng Thế Trung, Giang Văn Minh rất giỏi văn; cụ Lã thời rất giỏi tướng số. Đến lúc mãn khóa học, thầy dặn các trò rằng: Trò Phùng Thế Trung là anh cả sẽ đỗ trước, khóa thi sau hai em sẽ đỗ. Khi đó trò Lã lên để mả (xem phong thủy) cho anh cả, còn trò Giang khi nào có việc đi ngang qua cổng có đề chữ “Bạch Vân Tiên Sinh” thì sẽ biết đó là nhà thầy.

Khi thầy ra về, ba trò cùng tiễn, ra đến cổng làng thầy bảo ba trò dừng lại không tiễn nữa. Người thầy đi về và khi đến một gò đất cao trước cổng làng ba người học trò không nhìn thấy thầy đâu nữa mà có một vầng mây trắng từ gò đất đó bay lên. Ba người rất lấy làm kinh ngạc, sau này các cụ cùng nhân dân xây dựng ở đó một ngôi đình gọi là “Đình Tiên” để tri ân thầy.

Quả đúng như lời thầy dặn, cụ Phùng Thế Trung thi đỗ tiến sỹ trước. Khóa thi sau Cụ Giang, Cụ Lã đều đỗ. Lúc bây giờ cụ Phùng Thế Trung làm chánh chủ khảo, có người trong triều biết đã tố cáo, nhà Vua đích thân gọi vào kiểm tra và thấy bài của hai em rất hay, xứng đáng đỗ cao hơn nên cho đỗ Thám Hoa và Tiến sỹ. Sau này, cụ Giang đi sứ sang Trung Quốc khi đi qua một ngôi đền có ghi “Bạch Vân Tiên Sinh” cụ xuống ngựa làm lễ bái lạy và lúc đó mới biết lai lịch người thầy dạy của mình.

Trải qua thời gian, ngôi Đình Tiên bị phá hủy, đến nay đã được nhân dân xây dựng lại. Từ đó, mỗi khi đến lễ hội đình làng Kim Bí (ngày 24,25,26 tháng giêng) thì nhân dân tổ chức rước Kiệu ra đình Tiên để xin “Văn” cầu mong cho con cháu trong làng đi học và được đỗ đạt thành danh.

Tiến sỹ Phùng Thế Trung có hai người vợ, sinh được sáu người con (ngoài 50 tuổi mới có con), dòng họ hưng thịnh từ đây. Cụ mất ngày 21 tháng 12 năm Đinh Hợi (1647), thọ 63 tuổi. Là người tài giỏi, lại có nhiều công lao với đất nước nên khi mất cụ đã được vua ban cho đất đai tại làng Kim Bí, xây dựng nhà thờ để cho muôn đời sau hương hỏa, phụng thờ.

Có thể khẳng định Phùng Thế Trung trước hết là một nhà khoa bảng mà tên tuổi đã được ghi vào bảng vàng bia đá, năm 39 tuổi đỗ Tiến sỹ. Theo nguồn dẫn từ các tư liệu như “Giáo dục và khoa cử nho học Thăng Long Hà Nội” ghi rất rõ: Người có học vị Tiến sỹ thường được dân gian gọi là ông Nghè. Sau khi thi đỗ sẽ được làm lễ xướng danh, tức là lễ đọc tên những người đậu, yết tên ở bảng vàng và treo ở cửa kinh thành để thiên hạ được biết; Được vua ban mũ áo, đai bạc, lá cờ và biển gỗ có ghi học vị đạt được; Được làm lễ vinh quy bái tổ, sau được triều đình lệnh cho trấn (tỉnh), huyện hay phủ đón rước về làng. Đặc biệt là được khắc tên trên bia đá dựng trong Văn Miếu Quốc Tử Giám để lưu truyền cho các thế hệ muôn sau. Do tình hình chính trị lúc đó không ổn định nên khoa thi này tuy phải kéo dài việc xướng danh yết bảng, đến việc ban cấp áo mũ, yến tiệc vinh quy cũng đều chưa làm đúng lệ cũ của thi Đình nhưng cuối cùng vẫn xếp theo thứ tự thi Hội để điền vào bia, song với trình độ và học vấn của Phùng Thế Trung lúc đó đã được triều đình lúc đó ghi nhận.

Chánh nhất phẩm Phùng Thế Quý

Phùng Thế Quý tự là Nghiêm Kính, húy là Dung Tự, là con trai của Tiến sỹ Phùng Thế Trung, thuộc đời thứ 9 của dòng họ. Cụ sinh năm Kỷ Mùi niên hiệu Thận Đức 20 đời Lê Kính Tông (1619), cũng là người có tướng mạo khôi ngô, đĩnh đạc, kế thừa cơ nghiệp phú quí nhưng không giao du, chỉ chuyên tâm thi lễ, chăm chỉ học hành rồi đỗ đạt, sau khi thi đỗ được vua Dương Hòa năm thứ 3 phong làm Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thái thường tự khanh, tước Miên Thọ tử, Tá trị thượng khanh, trung giai. Trong nhà thờ hiện nay còn lưu giữ 01 bản sắc phong của cụ:

Sắc cho: Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại [phu], Tự thừa [Thái] thường tự, tước phong Miên Thọ tử, [Tá trị] thượng khanh, trung giai là Phùng Thế Quý, do làm việc trong quân […] đã lâu, có công lao, vậy ưng thăng lên chức Thiếu khanh, thành: Đặc tiến kim [tử] vinh lộc đại phu, Thái thường tự khanh, tước Miên Thọ tử, Tá trị thượng khanh, trung giai.

Vậy ban sắc!

Ngày 8 tháng Ba năm thứ 3 niên hiệu Dương Hòa”.

Tri phủ Phùng Thế Khanh

Đến đời sau là Phùng Thế Khanh cũng là bậc túc nho, được triều đình giao cho nhiều trọng trách, sau khi Cụ thi đỗ tam trường hai khoa thi Hội được phong làm Mậu lâm tá lang, Tri phủ phủ Phú Bình, hạ giai.

Có thể nói, dòng họ Phùng tại thôn Kim Bí, xã Tiên Phong là một dòng họ có truyền thống hiếu học nên có nhiều nhà khoa bảng, công danh hiển đạt và từng giữ các chức vụ trong triều, ngoài trấn đặc biệt là Tiến sỹ Phùng Thế Trung, thuộc đời thứ 8 trong dòng họ. Noi gương của tổ tiên, con cháu của họ Phùng luôn lấy việc tu tề làm quy luật (dưỡng đạo đức), lấy việc thành kính phụng sự tổ tiên, lấy thi thư làm gia bảo (lấy việc học hành làm gốc), đó là công lao gây dựng cơ nghiệp của tổ tông. Với những đóng góp của dòng họ và Tiến sỹ Phùng Thế Trung xứng đáng được trân trọng, tưởng nhớ và vinh danh.

4. Sự kiện cách mạng kháng chiến

Tiếp nối truyền thống yêu nước của nhân dân cả nước nói chung và huyện Ba Vì nói riêng, dòng họ Phùng đã chung sức, chung lòng với nhân dân trong xã tham gia kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc. Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc nhiều người con của họ Phùng đã lên đường ra trận. Theo thống kê của dòng họ, đã có 07 người là liệt sỹ và 05 thương bệnh binh, trong họ có 01 bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Do có nhiều thành tích xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến, nhiều gia đình, anh em trong dòng họ được tặng bằng khen, huân, huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước.

SINH HOẠT VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN DI TÍCH

Nhà thờ họ Phùng từ khi khởi dựng đến nay đã trở thành nơi hội họp của con cháu trong dòng họ mỗi khi vào các dịp tế lễ (giỗ họ).

1. Về thời gian tổ chức tế lễ của dòng họ Phùng

Tế lễ trong dòng họ được tổ chức hàng năm là để tưởng nhớ công lao của các bậc tiên tổ đối với dòng họ. Năm nào cũng vậy, đã thành lệ, cứ vào ngày 21/12 âm lịch (giỗ Tiến sỹ Phùng Thế Trung), ngày mồng 21/5 (giỗ vợ của cụ Tiến sỹ), ngày 4/8 (giỗ cụ Phùng Thế Quý), ngày 30/12 (giỗ cụ Phùng Thế Khanh) và ngày tết cầu đinh (mồng 4 tết âm lịch) là tất cả cháu con của dòng họ, không phân biệt trai, gái, dâu, rể từ mọi miền đều trở về ngôi nhà thờ chung của cả họ một lòng thành kính, thắp nén tâm hương, tưởng nhớ đến tổ tiên, ông bà của mình.

2. Các công việc chuẩn bị

Thông thường vào ngày giỗ của họ, con cháu đã chuẩn bị trước đó từ rất lâu, do trưởng họ và Ban trị sự Hội đồng gia tộc của dòng họ đảm nhận. Cụ thể là phân công nhiệm vụ cho năm ngánh trong họ như sau:

Ngánh thứ nhất:do trưởng họ chịu trách nhiệm làm giỗ cho cụ tổ Phùng Thế Trung.

Ngánh thứ hai:do ông trưởng chi Phùng Thế Đỗ, đảm nhiệm lễ cầu đinh vào ngày mồng 4 tết âm lịch.

Ngánh thứ ba: do ông Phùng Thế Hoan, chịu trách nhiệm làm giỗ cho cụ Phùng Thế Quý.

Ngánh thứ tư: do ông Phùng Thế Bằng, chịu trách nhiệm làm giỗ cho cụ Vũ Thị Ngọc, vợ của cụ Phùng Thế Quý.

Ngánh thứ năm: do ông Phùng Thế Tùng, chịu trách nhiệm làm giỗ cho cụ Nguyễn Thị Ngọc - vợ cụ Phùng Thế Trung.

Mặc dù mỗi ngánh đảm nhận tổ chức làm một ngày giỗ nhưng đều tập trung tế lễ tại nhà thờ họ Phùng.

3. Các nghi lễ cúng tế:

a) Lễ Mộc dục

Trước đây, lễ này được tổ chức trước ngày giỗ họ. Nước dùng trong nghi lễ mộc dục được lấy từ giếng ở điếm của làng. Ngày nay, lễ mộc dục đã được đơn giản hóa đi nhiều, được tiến hành vào ngày 30 tháng 12 âm lịch, tức ngày tết tất niên, do ông trưởng họ đảm nhiệm, dùng nước lấy từ giếng lên rồi bao sái long ngai và đồ thờ tự.

b) Lễ vật dâng cúng

Lễ vật dâng cúng tại nhà thờ trong các dịp tế lễ, giỗ họ vẫn là lễ mặn gồm: một ván mâm xôi khoảng 3kg gạo nếp hoa vàng, một thủ lợn từ 3-5kg kèm theo đủ rượu, hương hoa, oản quả…

c) Văn tế

Văn tế do ông trưởng họ viết và đọc, dựa vào mẫu của tổ tiên để lại, được viết bằng chữ Quốc ngữ, được đặt tại giá văn, có phủ vải đỏ. Tế xong, văn tế được người đọc hóa.

d) Ban tế

Ban tế được chọn cử từ năm ngánh trong họ. Chủ tế thường là do trưởng họ đảm nhiệm, về trang phục: Chủ tế mặc khăn xếp áo the đen; Trong khi hành lễ, tuyệt đối nghiêm cẩn. Thời gian tế thường là vào đúng các ngày giỗ kị, ngày kỉ niệm lớn của họ. Thông thường, là các cụ cao niên cả dòng họ tế trước rồi đến ông trưởng họ, sau đó là các ngánh, chi còn lại tế.

e) Các tuần tế

Vào dịp lễ chính có các tuần tế nhang và tuần tế rượu, tạo cho buổi lễ thêm linh thiêng, náo nhiệt, thể hiện lòng thành kính, sự tôn vinh các bậc tổ tiên của dòng họ và mong muốn cầu cho con cháu trong họ được sức khỏe, công thành danh toại, ấm no, hạnh phúc.

2. Các ngày lễ khác và những hoạt động văn hóa trong di tích

Ngoài các dịp tế lễ quan trọng, tại nhà thờ họ Phùng còn diễn ra nhiều hoạt động văn hóa khác có ý nghĩa. Kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học của dòng họ, ngày nay vào mỗi dịp giỗ họ, Hội đồng gia tộc còn tổ chức chương trình khuyến học, phát phần thưởng cho các cháu học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp thành phố và đỗ đại học. Ngày 4 tháng Giêng hàng năm tại nhà thờ họ, con cháu họ Phùng tổ chức đi tảo mộ và làm lễ cầu đinh, mong cho dòng họ ngày càng đông con nhiều cháu.

Đây là những sinh hoạt văn hóa rất lành mạnh, có ý nghĩa không chỉ đối với dòng họ Phùng mà còn cả với nhân dân trong vùng.

KHẢO TẢ DI TÍCH

1. Giới thiệu khái quát

Nhà thờ họ Phùng tọa lạc giữa thôn, ở vị trí trung tâm, cao nhất và trong khu vực cư trú của làng Kim Bí, nhìn theo hướng Nam với tổng diện ích là 244.8m2. Ông trưởng họ Phùng cho biết, sau khi đỗ đạt, được vua phong đất vinh quy bái tổ về làng, làng Kim Bí khi đó có hình con cá chép, Phùng Thế Trung đã mở đường giao thông dọc theo sống lưng của con cá, chính là con đường dọc làng, trước mặt di tích ngày nay. Trải qua nhiều biến cố, về sau con cháu cụ đã xây dựng nhà thờ họ Phùng đúng trên đỉnh giữa lưng của con cá chép, để đời sau thờ cúng.

Kiến trúc của nhà thờ họ Phùng không lớn, xung quanh lại được xây tường bao tạo nên khuôn viên khá gọn gàng, khiêm tốn. Mặt bằng chính của di tích được kết cấu theo kiểu chữ Nhất gồm nhà thờ chính, ngoài ra còn có tòa hữu vu (nhà soạn lễ), cổng, sân vườn.

2. Giới thiệu cụ thể

a. Cổng

Cổng nhà thờ nằm sát con đường đi, được xây bằng chất liệu gạch, vôi vữa, kiểu hai tầng mái với kiểu dáng của lối kiến trúc cổ, đơn giản không trang trí hoa văn, gồm một lối đi, khoảng giữa hai mái có khắc ba chữ Hán (Tiến sỹ từ) - đền thờ tiến sỹ.

b. Nhà thờ

Qua khoảng sân nhỏ lát gạch bát là đến nhà thờ, đây là công trình mới được dòng họ tu sửa năm 2004. Công trình này gồm ba gian với tổng chiều dài 9.7 m, (gian chính giữa rộng 2.6m, hai gian cạnh 2.35m, gian dĩ 1.2m, chiều dài cột cái là 3.75m), được làm theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri cổ. Bờ nóc, bờ dải có kết cấu đơn giản không trang trí, hai đầu bờ nóc đắp hai đấu đinh, cuối bờ dải xây giật nhị cấp. Hai trụ biểu phía trước mang dáng dấp hình ảnh nghiên bút, phải chăng là để đề cao sự học hành. Hiên của nhà thờ khá rộng, tạo sự thông thoáng cho di tích. Vào bên trong, tương ứng với 3 gian là 4 bộ vì trên sáu hàng chân cột, nền của nhà thờ lát gạch bát cổ, cao hơn mặt sân chừng 30 cm, các bộ vì ở đây được kết cấu theo các kiểu thức khác nhau:

Bộ vì gian giữa kiểu “thượng giá chiêng, trung kẻ ngồi, hạ bẩy”. Nối hai đầu cột cái là một câu đầu to, khỏe, lòng câu đầu diềm ngoài trang trí hoa văn hình hoa thị, bên trong khắc chữ Hán “giáp thân niên tu tạo, mậu tuất nguyệt hoàn thành” (năm Giáp Thân tu tạo, năm Mậu Tuất hoàn thành). Đứng trên lưng câu đầu là hai trụ trốn, nối hai trụ trốn là con rường bụng lợn tạo thành thế “giá chiêng”. Từ đầu của cột cái, kẻ ăn mộng qua cột cái nối với cột quân tạo thành “kẻ ngồi”. Bẩy ăn mộng qua cột quân và vươn ra đỡ mái.

Bộ vì hai gian hồi kiểu “thượng chồng rường, trung chồng rường, hạ bẩy”.

Nối hai đầu cột cái là một câu đầu không trang trí hoa văn. Trên lưng câu đầu là các con rường chồng lên nhau. Từ đầu của cột cái, nối với cột quân là các con rường nhỏ chồng lên nhau. Bẩy ăn mộng qua cột quân và vươn ra đỡ mái.

Ngoài hiên, các bộ vì làm theo kiểu “thượng kẻ ngồi, hạ chồng rường cốn, bẩy hiên”, “kẻ chuyền”. Trên các cấu kiện gỗ tại đây, được chạm khắc hoa văn khá tỉ mỉ theo các đề tài: tứ linh tứ quý, hoa lá…

c) Hữu vụ

Hạng mục này với 3 gian nằm vuông góc với nhà thờ. Mái được lợp bằng ngói cổ, bờ nóc, bờ dải để trơn nền lát gạch bát. Công trình này được xây trên nền cao hơn sân khoảng 15cm.

Vào bên trong, tương ứng với 3 gian là 4 bộ vì, các bộ vì ở đây kết cấu đơn giản “vì kèo quá giang gối tường”.

3. Mô tả về sự bài trí nội thất

a. Tại nhà thờ

Không gian của nhà thờ khá rộng nhưng bài trí không nhiều các đỗ thờ. Tại gian giữa của bái đường, trên cùng bài trí bức hoành phi đề.

Phiên âm: Dịch thế thư hương

Dịch nghĩa: Nối đời thư hương (“thư hương” nghĩa là hương thơm của sách vở, chỉ gia đình có truyền thống học hành)

Bên dưới là ban thờ gia tiên với các đồ thờ tự như long ngai, mâm bồng, hạc thờ,… Hai bên là đôi câu đối

Phiên âm:

Chi kim thế nghị thành huynh đệ,

Thủy mộc thiên thường nhất cổ kim

(Giáp thân niên, nhị linh linh tứ, đệ ngũ chi Phùng Thế Khoa cung tiến Phùng Giang Lã tam tổ di ngôn hậu thế)

Dịch nghĩa:

Đời trước giao tình thân thiết rồi thành anh em,

Cây có gốc, nước có nguồn là lẽ thường xưa nay.

(Năm Giáp thân, năm 2004, Phùng Thế Khoa ở chi thứ 5 cung tiến Di ngôn cho đời sau của Lã tam tổ ở Phùng Giang).

Tại đây còn bài trí các đồ thờ khác như cỗ long ngai, hạc thờ, mâm bồng, đài nước… Trên tường của hai gian hồi là các bản sắc phong của nhà thờ.

SƠ ĐỒ PHÂN BỐ DI VẬT, CỐ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA THUỘC DI TÍCH

Nhà thơ họ Phùng còn bảo lưu được một số di vật quý, trong đó phải kể đến năm đạo sắc phong thời Lê, gia phả (bản pho to chữ Hán), mâm bồng, đài nước… Đây là những di vật quí góp phần tạo nên giá trị lịch sử, văn hóa cho di tích.

Đánh giá

- Về số lượng, chủng loại: Di vật nhà thờ họ Phùng không nhiều về chủng loại, chất liệu, chủ yếu là đồ gỗ, đồ giấy…

- Về quy cách sắp đặt: Di vật ở đây được sắp đặt tập trung, hầu hết được bài trí ở nhà thờ chính. Cần lưu ý, tại gian hữu mạc của di tích có để một hương án đã bị hỏng một phần nhưng còn giữ được nhiều mảng chạm hoa văn có giá trị, dòng họ nên sửa chữa lại và bài trí lên nhà thờ chính cho hợp lí.

- Về những di vật tiêu biểu: Nhà thờ họ Phùng là một trong số rất ít những di tích nhà thờ họ còn lưu giữ được 05 đạo sắc phong có niên đại nghệ thuật thế kỷ XVII - XVIII như niên hiệu Vĩnh Tộ 8 (1626), niên hiệu Đức Long nguyên niên (1629)… Thông qua những di vật này, có thể khẳng định được về thời điểm khởi dựng của di tích và việc thờ cúng, tôn vinh dòng họ đặc biệt là tiến sỹ Phùng Thế Trung được thờ tại đây đã có từ lâu… Tất cả đều mang những thông điệp góp phần quan trọng tạo nên giá trị nổi bật cho di tích.

Nhìn chung các di vật tại nhà thờ họ Phùng không nhiều, nhưng đa số có giá trị, qua đó khẳng định những công lao của dòng họ và những đóng góp của tiến sỹ Phùng Thế Trung với đất nước. Việc bảo quản cũng rất được quan tâm, chú ý nên các di vật tại đây đa số còn trong tình trạng tốt.

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, KHOA HỌC CỦA DI TÍCH

1. Giá trị lịch sử

Ba Vì là quê hương của các các bậc hiền tài, danh nhân văn hóa của dân tộc đã được ghi vào sử sách. Theo thống kê trong cuốn “Ba Vì anh hùng đổi mới và phát triển” thì toàn huyện có 31 nhà khoa bảng, những tên tuổi phải kể đến như: Lưỡng quốc Thượng Thư Nguyễn Sư Mạnh; tiến sỹ Lê Anh Tuấn, Nguyễn Bá Lân, Trần Thế Vinh, nhà thơ Tản Đà… và làm rạng rỡ thêm cho mảnh đất Ba Vì là tiến sỹ Phùng Thế Trung. Vùng đất Ba Vì cũng nổi danh với nhiều di sản văn hóa vật thể đặc sắc, đậm nét văn hóa cổ xứ Đoài như đình Tây Đằng, đình Chu Quyến, đình Thụy Phiêu, đình Quang Húc… mà có người đến đây đã xưng tụng: Ba Vì là Thủ đô của di tích thời Lê.

Đối với dòng họ Phùng, trải qua các triều đại, thường xuyên có người đỗ đạt ở các kỳ thi, một dòng họ có cả bố, con, anh em đều được nêu tên trên bảng vàng, đặc biệt là tiến sỹ Phùng Thế Trung góp phần làm vẻ vang thêm trang sử của dòng họ, quê hương đất nước. Phùng Thế Trung là bậc túc nho, một con người có ý chí, tài năng và đã có lúc được giao giữ nhiều trọng trách trong triều đình. Tìm hiểu, nghiên cứu về ông và dòng họ Phùng giúp chúng ta thấy được tấm gương ngời sáng về tinh thần học tập, thấy được lịch sử, truyền thống khoa bảng của một dòng họ rất hiếm có ở xứ Đoài.

2. Giá trị nghệ thuật:

Trải qua thời gian, di tích nhà thờ họ Phùng đã được con cháu của dòng họ quan tâm trùng tu, sửa chữa nhưng vẫn còn giữ được kiến trúc chủ đạo thời Nguyễn với kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri. Các cấu kiện gỗ của bộ vì được chạm khắc hoa văn trang trí theo các đề tài dân gian truyền thống có giá trị cùng những di vật như 05 bản sắc phong có niên đại thời Lê, một số đồ thờ nghệ thuật thời Nguyễn có thể khẳng định đây là những di vật có giá trị, góp phần làm rõ, làm sáng thêm giá trị của di tích, trở thành địa chỉ quý cho ngành lịch sử, văn hóa… tìm hiểu, nghiên cứu.

3. Giá trị văn hóa - khoa học

Bên cạnh giá trị lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, nhà thờ họ Phùng còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân và đặc biệt cho các thế hệ con em trong họ. Noi gương tiến sỹ, dòng họ cũng có nhiều người phấn đấu học để đỗ đạt, học để thành danh.

Tìm hiểu, nghiên cứu về di tích nhà thờ họ Phùng giúp chúng ta thấy được giá trị về đạo lý, về văn hóa và tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên, gia tộc; thấy được truyền thống hiếu học và khoa bảng của một dòng họ để học tập.

THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

1. Tình trạng quản lý di tích

Hiện nay, dòng họ Phùng đã có Ban trị sự Hội đồng gia tộc do dòng họ bầu ra, đứng đầu là trưởng họ, ở mỗi chi phái lại có Chi trưởng. Hội đồng này có trách nhiệm đứng ra đảm nhiệm các thủ tục, các quy định, các nghi thức tế lễ của dòng họ. Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, di tích hiện nay vẫn được con cháu hậu duệ của dòng họ Phùng chăm lo, hương khói chu đáo. Nhà thờ họ Phùng hiện nay do ông Phùng Thế Chính, trưởng họ trông coi, gìn giữ. Theo quyết định 11/2011/QĐ-UBND ngày 02/3/2011 của UBND thành phố Hà Nội về việc phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015 thì di tích thuộc quyền quản lý trực tiếp của UBND huyện Ba Vì và UBND xã Tiên Phong.

2. Tình trạng sử dụng, bảo quản:

- Về đất đai, cảnh quan:

Hiện nay, di tích chưa có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Với diện tích và quy hoạch gọn gàng, khiên tốn, lại được xây tường bao xung quanh nên rất thuận tiện cho việc bảo vệ, giữ gìn khuôn viên của di tích nên không xảy ra sự xâm lấn về đất đai.

- Về kiến truc, di vật:

Di tích được tu sửa vào những năm gần đây nên toàn bộ kiến trúc và di vật đa số còn tốt. Các di vật được sử dụng đúng mục đích, đúng chức năng và được bảo quản tốt.

PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH

1. Phương án bảo vệ:

Di tích đã và đang được dòng họ Phùng tại thôn Kim Bí, xã Tiên Phong chăm lo, bảo vệ. Bên cạnh đó là sự quan tâm của các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương. Tuy nhiên:

Địa phương, dòng họ khi thực hiện các công tác sửa nhỏ cần xin ý kiến hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn theo đúng Luật Di sản văn hóa.

Có phương án bảo quản và bảo vệ di vật.

Huy động các nguồn lực để từng bước tôn tạo di tích, phục dựng các nghỉ lễ thờ cúng danh nhân trang nghiêm hơn nữa.

Sưu tầm và tổ chức lưu giữ các nguồn tư liệu liên quan đến sự hình thành và vận hành của di tích.

Mọi nguồn công đức, đóng góp cho di tích cần phải có sự tư vấn tốt của các cơ quan chuyên môn để phù hợp với di tích và tuân thủ đúng Luật Di sản văn hóa.

2. Phương án sử dụng

Nhà thờ họ Phùng một địa chỉ văn hóa của dòng họ Phùng và của người dân địa phương cũng như vùng xứ Đoài, có giá trị nhiều mặt:

Di tích chưa có biển chỉ dẫn, địa phương cần lập biển chỉ dẫn để khách thập phương có dịp ghé qua nơi đây có thể dễ dàng nhận biết và tìm đến thăm quan, tìm hiểu di tích.

Trong các dịp tế lễ của dòng họ và những sự kiện trọng đại của làng, địa phương cần tuyên truyền sâu rộng cho các thế trẻ hiểu được những giá trị của di tích. Tuyên truyền giáo dục truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước, yêu quê hương cho thế hệ trẻ. Từ đó xây dựng các quy ước trong việc bảo tồn di tích trên cơ sở Luật Di sản văn hóa, quy định các chức năng, nhiệm vụ để giảm thiểu các tác động của cộng đồng có thể gây ảnh hưởng tới di tích, giúp mọi người có ý thức bảo vệ và phát huy giá trị của di tích.

- Địa phương cần quan tâm đến công tác quản lý xây dựng các công trình xung quanh di tích, tránh tình trạng gây ảnh hưởng xấu đến không gian cảnh quan sinh thái của di tích.

3. Cơ sở pháp lý bảo vệ di tích

Căn cứ theo Luật di sản văn hóa và các văn bản đề nghị xếp hạng của địa phương, UBND xã Tiên Phong và Phòng Văn hóa thông tin huyện Ba Vì, công văn thỏa thuận của Cục Di sản văn hóa; qua khảo sát và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhà thờ họ Phùng có đầy đủ tiêu chí xếp hạng Di tích Lịch sử - lưu niệm danh nhân cấp thành phố. Di tích chính thức được bảo vệ bằng những văn bản pháp qui như sau:

- Luật Di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/06/2009, kỳ họp thứ 5 khóa XII;

- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi sung một số điều của Luật Di sản văn hóa;

- Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáođược Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại phiên họp thứ 19 ngày 18/06/2004 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số 18/2004/L-CTN công bố ngày 29/06/2004.

- Thông tư 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28 tháng 12  năm 2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.

- Quyết định số 11/2011/QĐ-UBNDngày 02/3/2011 của UBND thành phố Hà Nội về việc phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2015.

KẾT LUẬN

Căn cứ Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội phối hợp với các đơn vị liên quan đã hoàn thiện nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích nhà thờ họ Phùng, thôn Kim Bí, xã Tiên Phong, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là di tích Lịch sử - lưu niệm danh nhân.

Ban quản lý Di tích danh thắng Hà Nội trân trọng đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội xếp hạng cấp thành phố đối với di tích nhà thờ họ Phùng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Người cung cấp tư liệu

Trưởng họ cùng các cụ cao tuổi trong Hội đồng gia tộc và con cháu của dòng họ Phùng.

2. Tài liệu tham khảo:

- Các nhà khoa bảng. Ngô Đức Thọ. Nxb Văn học; tr.530

- “Văn bia tiến sỹ Văn Miếu Quốc Tử Thăng Long”. Ngô Đức Thọ. Nxb Hà Nội. Năm 2000. Tr.446

- Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam.Trần Hồng Đức. Nxb Văn hóa Thông Tin; tr.349;

- Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Tiên Phong (1945-2011);

- Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng quận Hoàng Mai. TS. Nguyễn Doãn Tuân (chủ biên). Nxb Văn hóa thông tin 2010.

- Đan Phượng - Di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng. Nxb Văn hóa thông tin 2011. TS.Nguyễn Doãn Tuân (chủ biên).

- Các tư liệu trong kho Ban quản lý Di tích Danh thắng Hà Nội và tự liệu Hán nôm tại nhà thờ họ Phùng.

Tác giả bài viết: Ban biên tập

Nguồn tin: www.hophungvietnam.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: họ phùng

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 8


Hôm nayHôm nay : 297

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39350

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5707385