Trang nhất » Tin Tức » HọPhùngvớinonsông » Vì tổ Quốc

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Chuyện người trực tiếp tiến vào Dinh Độc Lập năm xưa

Thứ năm - 04/08/2011 08:53

 

 

Chuyện người trực tiếp tiến vào Dinh Độc Lập năm xưa

 

Chiếc xe tăng đã đi vào lịch sử Việt Nam 30/4/1975 (Ảnh: TTXVN)
Đại tá Phùng Bá Đam 36 năm trước là một trong những chứng nhân góp mặt trong đội quân tiến công vào Dinh Độc Lập bắt Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh và toàn bộ nhân vật chủ chốt nội các chính quyền Sài Gòn sáng 30/4/1975. 

Giờ đây, ông vẫn tiếp tục cống hiến trí tuệ và sức lực cho xã hội bằng việc tham gia giảng dạy tại Trường phổ thông dân lập Đông Đô, Hà Nội. Qua những bài giảng trên lớp, ông muốn thế hệ trẻ hiểu, quý trọng và biết giữ gìn sự nghiệp của của các thế hệ ông cha đi trước.

Hồi ức của một nhân chứng

May mắn được cùng các đồng đội trải qua thời khắc thiêng liêng của lịch sử, khi đó người lính Phùng Bá Đam mới đang là một trung uý trẻ 27 tuổi, làm công tác bảo mật, trợ lý chính trị Trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Người lính ấy hẳn đã không thể nghĩ một ngày anh sẽ được có mặt trong đoàn quân tiến vào Dinh Độc Lập. Đó là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự đối với những người lính như anh. 

Cho đến giờ, đại tá Đam vẫn chẳng thể nào quên khoảnh khắc trưa 30/4/1975, từ đài phát thanh Sài Gòn vừa được giải phóng, tiếng nói của đội quân chiến thắng truyền tới khắp mọi miền Tổ quốc và tới khắp năm châu, báo tin vui sự nghiệp giải phóng miền Nam đã hoàn thành, cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã toàn thắng. 

Ông kể: “Chúng tôi đã yêu cầu tuyên bố đầu hàng ngay trong Dinh Độc Lập, nhưng ngay khi đó kiểm tra lại hệ thống truyền thanh từ trong Dinh thì thấy nó không hoạt động, do nhân viên đã chạy hết. Vì chúng tôi là đơn vị bộ binh, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường nên hiểu rõ nếu như chỉ huy chưa tuyên bố đầu hàng thì cấp dưới vẫn còn chống đỡ quyết liệt.

Trước tình hình đó, tôi bàn với anh em nhanh chóng đưa Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng càng sớm càng tốt để đỡ đổ máu cho đồng bào đồng chí. Sau khi phát thanh xong cũng là lúc 11h30 phút. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì sẽ đỡ đổ máu cho đồng bào đồng chí, đỡ thiệt hại cho nhân dân.”

Là chiến sĩ thuộc đơn vị tiến vào Dinh Độc Lập sớm hơn cả, giờ đây mỗi lần nhắc nhở về những đồng đội đã anh dũng hy sinh, Đại tá Phùng Bá Đam mắt lại ngân ngấn lệ. Với những người lính như ông, tháng Tư là tháng của những hoài niệm hào hùng, của bản hùng ca ngân vang khúc lịch sử bi tráng… 

“Tôi không thể quên được những đồng đội đã ngã xuống khi cùng nhau tham gia các chiến dịch từ năm 1968, rồi đến 1972, 1974, 1975 và đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử của dân tộc. Cho đến lúc này tôi vẫn luôn luôn hướng về Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có ký ức về Sư đoàn 304 của chúng tôi,” Đại tá Đam bồi hồi nhớ lại. 

Người lính đứng lớp

Năm nay đã bước sang tuổi 63 nhưng Đại tá Phùng Bá Đam vẫn giữ được tác phong của một người lính với dáng đi nhanh nhẹn và đặc biệt lúc nào cũng thấy ông vui vẻ cười nói. Từ một người lính trong thời chiến nay khi đã về hưu ông lại trở thành một người thầy đứng trên bục giảng.

Cũng bởi một lẽ đơn giản: “Về đời thường mà vẫn còn nhiều sức lực thế này, tôi nghĩ mình phải cố gắng mang hết khả năng để phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân, đặc biệt là sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi đã tham gia giảng dạy ở Trường phổ thông dân lập Đông Đô, Hà Nội” như ông đã từng tâm sự.

Giờ đây niềm vui của người lính từng chứng kiến giây phút “sống trong sợ hãi” của Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh là những buổi lên lớp truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm của một người lính đến với học trò. Hạnh phúc hơn nữa khi ông được nhận lại những tình cảm quý mến, cảm phục của không chỉ học trò mà còn của đồng nghiệp.

Dù trong môi trường nào, Đại tá Phùng Bá Đam cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công việc. Bởi, như ông thường nói với mọi người: “Trong chiến tranh gian khổ, ác liệt như vậy mình còn vượt qua được huống chi nay thời bình. Đó chính là sức mạnh bên trong của người lính. Giờ mình còn sức mình còn cống hiến. Đặc biệt, với thế hệ trẻ phải quan tâm giáo dục để các em hiểu và biết trân trọng, giữ gìn sự nghiệp của ông cha, của các thế hệ đi trước.” 

Còn Hiệu trưởng trường Phổ thông dân lập Đông Đô Tiến sỹ Võ Thế Quân nói về “người thầy” Phùng Bá Đam một cách đầy tự hào: “Về trường Đông Đô làm việc được 10 năm nay, thầy Phùng Bá Đam đã thể hiện bản lĩnh không chỉ là một chiến sĩ anh hùng trong thời chiến mà còn là một chiến sĩ tâm huyết với sự nghiệp giáo dục trong thời bình. 

Thầy Đam khi về công tác ở trường đã thể hiện được tư chất bộ đội Cụ Hồ và luôn toả sáng trong nhân cách cũng như lối sống hàng ngày với cán bộ giáo viên, được các thầy cô giáo và các em học sinh kính trọng, yêu quý.”./. 
 
Lan Anh (Vietnam+)
 
 
Người xử lý “sự cố” trong dinh Độc Lập 36 năm trước01/05/2011
Xe tăng của quân giải phóng tiến vào Sài Gòn 
                                                                          Ảnh: TL
 
 
Hồi ức của một chứng nhân

Đại tá Phùng Bá Đam

Trong gian nhà nhỏ, bên ấm trà sen ngát hương mà ông Đam khoe với chúng tôi là của đồng đội cũ mới tặng, thời gian như ngưng đọng theo dòng hồi tưởng của ông. Đại tá Phùng Bá Đam nhớ lại: Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhiệm vụ của chúng tôi là tiến công nhanh chóng vào nội đô thành phố Sài Gòn, với mục tiêu là đánh chiếm dinh Độc Lập, Đài Phát thanh và Bộ tư lệnh Hải quân của địch. Binh đoàn thọc sâu của chúng tôi gồm có Trung đoàn bộ binh 66 thuộc Sư đoàn 304, Lữ đoàn xe tăng 203 và một số đơn vị pháo binh của Quân đoàn 2. Khoảng 17 giờ ngày 29-4, Binh đoàn bắt đầu xuất phát, 3-4 giờ sáng 30-4 đoàn quân đến ngã tư Thủ Đức, gặp địch chống cự nhưng khi thấy lực lượng của ta hùng mạnh, quân địch vội bỏ chạy. Rạng sáng ngày 30-4, binh đoàn đến cầu Sài Gòn. Địch ở khu vực này phòng ngự rất mạnh, tập trung cả xe tăng, với bộ binh, hải quân. Quân địch bố trí các ụ súng, lô cốt, hoả lực mạnh, pháo bắn thẳng, xe tăng từ bên kia sông bắn sang. Không thể tiếp tục tiến, Binh đoàn phải dừng lại triển khai chiến đấu. Địch bắn sang rất dữ dội. Ta vừa triển khai đội hình, vừa bắn trả quyết liệt. Sau gần một giờ chiến đấu quyết liệt, Binh đoàn tiêu diệt được bốn xe tăng địch gồm hai chiếc M41, hai chiếc M113, bắn cháy hai tàu chiến dưới sông Sài Gòn, phá hủy nhiều ụ súng, lô cốt ở bên kia bờ sông... Đến 8 giờ sáng ngày 30-4, tiếng súng thưa dần, địch bỏ chạy... Khi đó chiếc xe Jeep chở Đại uý Phạm Xuân Thệ (Trung đoàn phó Trung đoàn 66), Trung uý Phùng Bá Đam (Trợ lý cán bộ trung đoàn), Trung uý Nguyễn Khắc Nhu (Trợ lý tham mưu trung đoàn), lái xe Đào Ngọc Vân, hai chiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng và Bàng Nguyên Thất nhanh chóng bứt lên, tiến vào nội đô nhằm hướng dinh Độc Lập.

 

May mắn được cùng các đồng đội trải qua thời khắc thiêng liêng của lịch sử, khi đó Phùng Bá Đam 27 tuổi, mới mang hàm trung úy, làm công tác bảo mật, trợ lý chính trị trung đoàn 66, Sư đoàn 304. Người lính ấy hẳn đã không thể nghĩ một ngày anh sẽ có mặt trong đoàn quân tiến vào dinh Độc Lập. Đó là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự đối với những người lính như anh. Cho đến giờ, Đại tá Đam vẫn chẳng thể nào quên khoảnh khắc trưa 30-4-1975, từ đài phát thanh Sài Gòn vừa được giải phóng, tiếng nói của đội quân chiến thắng truyền tới khắp mọi miền Tổ quốc, đến với năm châu, báo tin vui sự nghiệp giải phóng miền Nam đã hoàn thành, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã toàn thắng.

Ông kể: “Chúng tôi đã yêu cầu Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ngay trong dinh Độc Lập, nhưng ngay khi đó kiểm tra lại hệ thống truyền thanh từ dinh Độc Lập thì thấy không hoạt động, do nhân viên đã chạy hết. Trước sự cố này, tôi bàn với anh em nhanh chóng đưa Dương Văn Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng càng sớm càng tốt để đỡ đổ máu cho đồng bào, đồng chí. Vì chúng tôi là đơn vị bộ binh, nhiều năm chiến đấu ở chiến trường nên hiểu rõ nếu như chỉ huy chưa tuyên bố đầu hàng thì ở dưới họ còn chống đỡ quyết liệt. Sau khi phát thanh xong cũng là lúc kim đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì như vậy sẽ đỡ đổ máu, đỡ thiệt hại cho nhân dân. Sài Gòn hôm ấy súng nổ như pháo đêm 30 Tết. Tiếng súng rất nhiều nhưng không phải là tiếng súng chiến đấu mà là tiếng súng mừng chiến thắng của quân Giải phóng”, ông Đam bồi hồi.

Tâm huyết với sự nghiệp trồng người

Ông Đam chia sẻ, giành được hòa bình, độc lập, tự do rất quý giá, nhưng cái giá phải trả thì quá lớn. Thế hệ ngày nay được thừa kế truyền thống của quý báu của cha ông, nhưng để hiểu biết và trân trọng cái quý giá đó thì cần phải được rèn luyện.

Năm nay đã bước sang tuổi 63 nhưng Đại tá Phùng Bá Đam vẫn giữ được tác phong của một người lính với dáng đi nhanh nhẹn và đặc biệt lúc nào cũng thấy ông vui vẻ, tươi cười nói. Thế nhưng, ít ai biết rằng, từ một người lính trong thời chiến nay khi đã về hưu ông lại trở thành một người thầy đứng trên bục giảng. Cũng bởi một lẽ đơn giản như ông nói: “Về đời thường mà vẫn còn nhiều sức lực thế này, tôi nghĩ mình phải cố gắng mang hết khả năng để phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân, đặc biệt là sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Vì vậy, tôi đã tham gia giảng dạy ở Trường Phổ thông dân lập Đông Đô, Hà Nội”. 

Giờ đây niềm vui của người lính từng chứng kiến giây phút “sống trong sợ hãi” của Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh là những buổi lên lớp truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm của một người lính đến với học trò. Hạnh phúc hơn nữa khi ông được nhận lại những tình cảm quý mến, cảm phục của không chỉ học trò mà còn của đồng nghiệp.

Tiến sỹ Võ Thế Quân, Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân lập Đông Đô  nói về “người thầy” Phùng Bá Đam một cách đầy tự hào: “Về trường Đông Đô làm việc được 10 năm nay, thầy Phùng Bá Đam đã thể hiện bản lĩnh không chỉ là một chiến sĩ anh hùng trong thời chiến mà còn là một chiến sĩ tâm huyết với sự nghiệp giáo dục trong thời bình. Thầy Đam khi về công tác ở trường đã thể hiện được rõ bản chất anh bộ đội Cụ Hồ, được các thầy cô giáo và các em học sinh kính trọng, yêu quý.

Vũ Mạnh – Lan Anh/ daidoanket.vn

 

Gặp lại người tham gia bắt Dương Văn Minh

NGUYỄN DANH VÀN/ baomoi.com

Câu chuyện Quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập, rồi Dương Văn Minh tuyên hàng vô điều kiện..., về tình tiết hẳn đối đối với mỗi người dân Việt đều nằm lòng. Nhưng nghe trực tiếp đại tá Phùng Bá Đam, một người tham gia bắt Dương Văn Minh, kể lại sau 34 năm vẫn thấy xốn xang. Ông Nguyễn Danh Vàn, cán bộ ngành nông nghiệp, là bạn của đại tá Đam, ghi lại câu chuyện năm xưa và gửi cho NNVN, xin giới thiệu cùng bạn đọc.  

 

 

 

 

Chuẩn bị ghi âm tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của Dương Văn Minh

 

Cuộc gặp gỡ sau hơn 40 năm xa cách

Là bạn học cùng thời, nhưng từ khi hết cấp 2 (năm 1965), tôi và Phùng Bá Đam chưa một lần được gặp lại nhau. Gần đây, thật bất ngờ sau hơn 40 năm xa cách chúng tôi đã gặp lại nhau trong buổi “Họp mặt cựu học sinh trường cấp 2 Hiệp Hòa” (Phú Xuyên, Hà Nội). Sau buổi họp, đại tá Phùng Bá Đam mời tôi về thăm gia đình anh.

Vừa bước vào nhà, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là hai tấm ảnh đen trắng khổ lớn treo trên tường, có hình Dương Văn Minh. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy tấm nào cũng có anh trong đó.

Thế rồi sau bữa ăn tối, cùng nằm với nhau dưới 2 lớp chăn len dầy, trong cái lạnh buốt như cắt da của Hà Nội vào một đêm giáp Tết, anh hỏi:

- Ông ngạc nhiên khi thấy những tấm hình này phải không?

Rồi với giọng chắc nịch của “con nhà lính” anh bắt đầu kể:

- Cuộc đời binh nghiệp của thế hệ anh em mình thật lắm gian truân. Bạn bè đồng đội biết bao người đã phải vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trận. Còn tôi, sau hàng chục trận chiến đấu ác liệt, mặc dù thương tích đầy mình nhưng vẫn còn sống đến ngày toàn thắng. Đã thế, tôi còn may mắn được một vinh dự rất lớn mà ít người có được, đó là đã trở thành một trong những chiến sỹ Quân giải phóng tham gia bắt Dương Văn Minh tại dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975. Lúc đó tôi là một sỹ quan trẻ (trung úy, 26 tuổi), thuộc Trung đoàn bộ binh 66 (Sư đoàn 304, Quân đoàn 2).

Tiến vào Sài Gòn

Ngày 27/4/1975, sau khi giải phóng căn cứ Nước Trong, Quân đoàn 2 quyết định thành lập Binh đoàn thọc sâu theo hướng Đông Nam đánh vào Sài Gòn, chiếm Đài phát thanh, căn cứ Hải quân và dinh Độc Lập.

Đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 (nay là Trung tướng, nguyên Tư lệnh Quân khu I), anh Trần Ngọc Sơn (Chủ nhiệm chính trị), anh Đinh Thái Quang (trợ lý câu lạc bộ), tôi và một số đồng chí trợ lý cơ quan tham mưu Trung đoàn… đã vinh dự được tham gia hướng tiến công này.

Ngày 30/4/1975, sau khi đánh bật những ổ kháng cự trên cầu Rạch Chiếc và cầu Sài Gòn, Binh đoàn tiếp tục tiến vào nội đô Sài Gòn. Khoảng gần 9 giờ sáng, đội hình của chúng tôi đã tiến đến cầu Thị Nghè. Tại đây, có bốn chiếc xe tăng địch đã bị quân ta bắn cháy. Đi đầu đội hình tiến vào dinh Độc Lập là xe tăng, sau đó là xe của Trung đoàn 66. Chúng tôi ngồi trên chiếc xe Jeep (chiến lợi phẩm mang từ Đà Nẵng) do Đào Ngọc Vân lái. Từ cầu Thị Nghè vào dinh Độc Lập quân ta không biết đường. Chúng tôi phải dừng lại để hỏi thăm. Bỗng trong đám đông đứng bên đường, một người gầy, da bánh mật, mặc áo sơ mi trắng cộc tay nói:

- Tôi biết đường.

- “Mời ông lên xe”, anh Thệ nói. Cùng lúc tôi mở cửa xe kéo ông lên ngồi cạnh. Xe lướt rất nhanh, chẳng mấy chốc đã thấy một tòa nhà cao tầng hiện ra trước mặt, người đàn ông chỉ tay về hướng đó rồi nói to:

- Đó, dinh Độc Lập đấy các chú.

Theo tay ông chỉ, dinh Độc Lập chỉ còn cách chúng tôi khoảng vài trăm mét. Trên nóc là lá cờ ngụy. Khoảng hơn 9 giờ sáng, chúng tôi đến trước cổng dinh. Khi xe tăng của ta húc đổ cổng chính. Xe chúng tôi lách lên lao thẳng đến tiền sảnh của dinh. Trong sân dinh, binh lính địch đã hạ vũ khí đầu hàng, mặt mày ủ rũ, sợ hãi… Sau đó, xe tăng và bộ binh của quân ta cũng nhanh chóng ập vào. Các nhà báo trong và ngoài nước vây quanh chúng tôi chụp ảnh, xin cờ giải phóng và chữ ký lưu niệm.

 

 

Trở lại thăm dinh Độc Lập

 

Bắt Dương Văn Minh

 

 

Được sự hướng dẫn của các nhà báo, anh Phạm Xuân Thệ và chúng tôi hăng hái chạy vào dinh. Khi tới cầu thang thì gặp một người mặc quân phục cộc tay, ông ta tự giới thiệu: “Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho tổng thống Dương Văn Minh, báo cáo toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn đang chờ sẵn cấp chỉ huy ở phòng khánh tiết”. Theo Nguyễn Hữu Hạnh, chúng tôi tới phòng khánh tiết đã thấy người ngồi kín, không khí ảm đạm, trầm lặng.

Thấy chúng tôi, tất cả lục tục đứng dậy. Một người cao lớn, mặt vuông chữ điền, mặc quân phục mầu rêu, đeo kính trắng bước lên. Nguyễn Hữu Hạnh giới thiệu: “Báo cáo cấp chỉ huy, đây là ông Dương Văn Minh, tổng thống”. Rồi ông ta chỉ tay vào một người hơi thấp, trán cao, đeo kính trắng, mặc complê đen, giới thiệu: “Đây là thủ tướng Vũ Văn Mẫu”, Mẫu khẽ cúi đầu chào đáp lễ.

Dương Văn Minh bước tới, nói thận trọng: “Chúng tôi biết Quân giải phóng tiến vào nội đô. Chúng tôi đang chờ Quân giải phóng vào để bàn giao”. Nghe tới đó, anh Thệ phản ứng rất tự nhiên, giọng kiên quyết: “Các ông đã bị bắt làm tù binh. Các ông phải đầu hàng vô điều kiện, chứ không có gì để bàn giao”.

Cả phòng im phăng phắc, không khí chùng hẳn xuống. Trước thái độ kiên quyết và dứt khoát của anh Thệ, Dương Văn Minh bị bất ngờ, tỏ vẻ lúng túng, chuyển từ thế chủ động sang bị động lúng túng, cúi đầu chờ đợi.

Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện

Trước tình hình chiến sự xảy ra mau lẹ, để đỡ tổn thất xương máu của đồng bào, đồng chí, chúng tôi bàn nhau phải bắt Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng ngay. Anh Thệ dõng dạc nói: “Các ông phải ra ngay Đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng”.

Nghe bên ngoài vẫn còn tiếng súng nổ, binh lính địch đang cảnh hỗn quân, hỗn quan nên Dương Văn Minh lộ rõ vẻ lo lắng, ngồi xuống ghế thở dài: “Xin cấp chỉ huy cho tuyên bố đầu hàng tại đây, ra ngoài phố lúc này không an toàn”. Không chần chừ, anh Thệ nói: “Sài Gòn đã giải phóng, chúng tôi bảo đảm an toàn cho các ông”. Nghe vậy Vũ Văn Mẫu trao đổi nhỏ với Dương Văn Minh rồi đứng dậy: “Xin tuân lệnh cấp chỉ huy”.

Khi chúng tôi dẫn Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rời khỏi phòng khánh tiết, các quan chức chính quyền Sài Gòn trong phòng nhốn nháo, bàn tán. Dương Văn Minh cúi đầu bước đi, xuống hết cầu thang, ông ta chỉ tay sang bên trái nói với anh Thệ: “Mời các ông lên xe”. Anh Thệ nói: “Chúng tôi đã có xe”. Dương Văn Minh đành theo chúng tôi lên xe Jeep của Đào Ngọc Vân. Anh Thệ và Dương Văn Minh ngồi ghế trên. Tôi ngồi phía sau với Vũ Văn Mẫu, anh Nguyễn Văn Nhu, Bàng Nguyên Thất và Nguyễn Huy Hoàng.

Xe chúng tôi chuyển bánh, đúng lúc xe chỉ huy của Lữ đoàn xe tăng 203 tiến vào dinh Độc Lập. Nhiều xe chở bộ đội ta từ các hướng cũng đã đổ dồn về khu vực trước cổng dinh. Xe xuất phát, nhưng chúng tôi không biết đường, Dương Văn Minh đã chỉ đường cho xe đến Đài phát thanh Sài Gòn.

Tới nơi, anh Trương Quang Siều (tiểu đoàn trưởng) và Hoàng Trọng Tình (chính trị viên) Tiểu đoàn 8, chạy ra đón. Anh Siều báo cáo anh Thệ: “Tiểu đoàn 8 đã hoàn thành nhiệm vụ chiếm Đài phát thanh Sài Gòn”. Các anh cùng chúng tôi dẫn Dương Văn Minh lên tầng 2 vào phòng thu âm.

Đến nơi, nhân viên của đài đã bỏ chạy hết, anh Tình yêu cầu ông già bảo vệ của đài đi tìm họ. Trong lúc chờ đợi, anh Phạm Xuân Thệ, tôi và anh Đinh Thái Quang, Nguyễn Văn Nhu tranh thủ trao đổi về nội dung bản tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh.

Đang trao đổi thì một đồng chí bộ đội dáng người cao to, đội mũ cứng bước vào hỏi: “Các anh ở đâu, đơn vị nào?”.

Anh Thệ trả lời: “Tôi Phạm Xuân Thệ, Phó đoàn Đông Sơn” (Đông Sơn là biệt danh của Trung đoàn 66 trong chiến tranh). Đồng chí này tự giới thiệu: “Tôi là Bùi Tùng, trung tá, chính ủy Lữ đoàn 203. Tôi tưởng các anh là người của Quân đoàn nên tôi không tham gia. Tôi vào dinh, biết Dương Văn Minh đã ra Đài phát thanh, nên tôi đến đây luôn”. “May quá, bây giờ chúng ta cùng làm”, anh Thệ nói. Anh Bùi Tùng cùng chúng tôi thảo tiếp nội dung lời tuyên bố đầu hàng để Dương Văn Minh đọc. Dương Văn Minh loay hoay mãi không đọc nổi vì chữ anh Thệ khó đọc, rồi đề nghị: “Cấp chỉ huy đọc lại cho tôi chép”.

Anh Thệ đọc cho Dương Văn Minh chép. Khi đọc đến từ “tổng thống”, Dương Văn Minh dừng lại đề nghị: “Chỉ nên nói là Đại tướng thôi, chức tổng thống tôi mới nhận từ ông Trần Văn Hương”. Anh em chúng tôi không đồng ý, anh Tùng nói: “Không được, dù làm một ngày, một giờ thì cũng phải chịu trách nhiệm, ông nhận chức tổng thống từ Trần Văn Hương những hai, ba ngày rồi”. Dương Văn Minh đành chấp thuận, tiếp tục viết.

Khi anh Đinh Thái Quang mở máy ghi âm để thu thì cuộn băng bị rối. Tôi đã tìm được một chiếc cặp trong đó có một số băng ghi âm, đưa lại để thu. Nhưng ngay lúc đó, một nhà báo người Đức đưa máy ghi âm ra cho chúng tôi mượn, rồi ông tự lắp băng, mở máy thu lời đầu hàng của Dương Văn Minh.

Chúng tôi bàn với nhau, ta phải có lời tuyên bố chấp nhận sự đầu hàng và đề nghị trung tá Bùi Tùng là người chỉ huy cao nhất ở đây, quê lại ở miền Nam đọc là phù hợp. Anh Tùng đồng ý rồi dõng dạc đọc: “Tôi Bùi Tùng, thay mặt Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chấp nhận sự tuyên bố đầu hàng vô điều kiện của tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh”...

Đồng hồ trong tay tôi lúc này chỉ 11 GIỜ 30 PHÚT, NGÀY 30 THÁNG TƯ NĂM 1975.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 40


Hôm nayHôm nay : 981

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 39029

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6110599

Đặt Logo, Banner