Trang nhất » Tin Tức » HọPhùngvớinonsông » Vì tổ Quốc

Facebook Twitter More...DeliciousDiggFavorites

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

Thứ sáu - 12/08/2011 17:12
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

 

 

 

 

 

Điện Biên Phủ: Một chiến thắng có tầm vóc thời đại 
(08:31 - 09/05/2011)
 
Chiến  thắng  Điện Biên Phủ là một trong những chiến công vang dội nhất của quân đội và nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Đây là chiến thắng có tầm vóc thời đại, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.
 
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

Sau nhiều thất bại trên mặt trận quân sự tại chiến trường Việt Nam và cả Đông Dương, Thực dân Pháp muốn giành lại thế chủ động bằng việc dồn toàn lực lập nên một tập đoàn cứ điểm mạnh tại Điện Biên Phủ. Sau một thời gian chuẩn bị, lực lượng quân Pháp đồn trú tại Điện Biên Phủ (kể cả sau khi tăng viện) đã tăng lên tới 16.200 quân, bao gồm 16 tiểu đoàn, 9 đại đội bộ binh và lính nhảy dù, gần 3 tiểu đoàn pháo binh 105 ly và 1 đại đội pháo 155 ly, 2 đại đội súng cối 120 ly, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng 18 tấn, 1 trung đoàn xe vận tải 200 chiếc, 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc. Tất cả lực lượng này được tổ chức thành 3 phân khu, 8 trung tâm đề kháng, bao gồm 49 cứ điểm phòng thủ liên hoàn, có cầu hàng không với 2 sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm, chưa kể tới lực lượng không quân của Pháp và Mỹ luôn sẵn sàng hỗ trợ khi cần thiết.


Các đợt tấn công của quân ta

Với lực lượng hùng mạnh trên, lại có ưu thế đóng quân tại địa hình rất khó tiếp cận, các chuyên gia quân sự của Pháp và Mỹ cho rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả chiến bại, và hy vọng nếu Việt Minh tấn công vào Điện Biên Phủ, sẽ bị nghiền nát và dẫn đến bị tiêu hao lực lượng mà suy yếu dần, nhường lại thế chủ động trên chiến trường cho người Pháp.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch
Về phía ta, với quyết tâm đánh thắng trận Điện Biên, tạo thế tấn công trên cả mặt trận quân sự và ngoại giao, chúng ta đã dồn hết sức người và sức của cho chiến dịch. Hàng vạn dân công trên khắp mọi miền đã hăng hái tham gia phục vụ làm đường, đi tiếp tế cho bộ đội. Quân đội ta đã bí mật, bất ngờ đưa đại bác 105 mm lên các sườn núi cao xung quanh cứ điểm. Bộ chỉ huy chến dịch đã nghiên cứu kỹ cách đánh, bảo đảm cho thắng lợi. Từ phương châm "đánh nhanh thắng nhanh”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển sang phương châm "đánh chắc tiến chắc" để có thể triệt để lợi dụng thế mạnh của ta, hạn chế thế mạnh của địch…Các khẩu pháo đã đưa vào được kéo ra; những tuyến đường phục vụ cho chiến dịch được mở rộng hơn, công sự được xây dựng kiên cố hơn, sự chuẩn bị về hậu cần cũng được đáp ứng tốt hơn cho mặt trận; tất cả đã sẵn sàng cho chiến dịch.

Những mục tiêu bị tấn công trong ngày đầu tiên của chiến dịch
Đúng 17 giờ 5 phút chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta bắt đầu khai hỏa chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử bằng các đợt nã pháo ác liệt vào các cứ điểm của địch. Cụm cứ điểm Him Lam sau một thời gian ngắn đã bị ta chiếm. đến 17 tháng 3, sau đợt tiến công thứ nhất, quân ta đã tiêu diệt phân khu Bắc của tập đoàn cứ điểm.
Đợt tiến công thứ hai bắt đầu từ ngày 30 tháng 3 đến 26 tháng 4, quân ta tiến đánh phân khu trung tâm, chủ yếu nhằm chiếm các đồi phía đông để khống chế trung tâm và sân bay Mường Thanh. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Hai bên giành nhau các các đồi A1, C1, D1… Lính Pháp dựa vào các hầm ngầm và lô cốt kiên cố để cố thủ và phản kích dữ dội. Quân ta áp dụng chiến thuật "đánh lấn”, đào hệ thống chiến hào rất dài để bao vây và áp sát các lô cốt, hầm ngầm của địch, khiến lính pháp rất khó nhận được tiếp tế do máy bay thả bằng dù.
Vào thời điểm này, đã bắt đầu vào mùa mưa nên quân Pháp gặp rất nhiều khó khăn trong việc phòng thủ, trong công tác hậu cần và y tế. Bộ chỉ huy Pháp chỉ còn hy vọng cầm cự càng lâu càng tốt để có thể ngừng bắn khi Hội nghị Giơ-Ne-Vơ (Genève) về vấn đề Đông Dương được nhóm họp vào khoảng đầu tháng 7-1954.


Các mục tiêu bị đánh khi kết thúc chiến dịch
Biết được điều này, quân ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trước thời hạn trên. Đợt tiến công thứ ba đã được bắt đầu từ ngày 1- 5, bằng tiếng nổ của gần 1 tấn thuốc nổ phá vỡ hệ thống hầm ngầm kiên cố của địch trên đồi A1. Đến sáng ngày 7- 5, tất cả các cứ điểm còn lại trên các quả đồi phía đông đã hoàn toàn bị ta chiếm. Quân đội ta mở cuộc tổng tiến công toàn diện vào trung tâm tập đoàn cứ điểm. Tướng chỉ huy Đờ-Cát-Tơ-Ri (De Castries) và toàn bộ ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm kéo cờ trắng đầu hàng. Gần 10.000 số quân Pháp còn lại tại Điện Biên Phủ đã bị bắt làm tù binh.
Một ngày sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 8- 5- 1954, Hội nghị Giơ-Ne-Vơ bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương. Sau hội nghị này, Pháp đã phải công nhận quyền tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Cũng từ đây, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương
Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những chiến công vang dội nhất của quân đội và nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX, chiến thắng này đã góp phần chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ. Đây là chiến thắng có tầm vóc thời đại của nhân dân Việt Nam, đã tạo nên ảnh hưởng rất lớn trên trường quốc tế, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới..
 
Chắc thắng mới đánh...
Trước khi lên đường ra mặt trận làm nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy kiêm Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến Khuối Tát để chào Bác và xin ý kiến Bác, Bác hỏi Võ Đại tướng:
- Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường có gì trở ngại?
Đại tướng báo cáo với Bác, ở mặt trận có mặt của Tổng Tham mưu phó và Phó Chủ nhiệm chính trị, sẽ tổ chức một cơ quan tiền phương của Bộ Tổng Tư lệnh để chỉ đạo chiến trường toàn quốc, kể cả bộ đội tình nguyện ở Lào và Campuchia. Hai đồng chí Nguyễn Chí Thanh và Văn Tiến Dũng ở lại căn cứ phụ trách Mặt trận đồng bằng Bắc bộ. Chỉ có trở ngại là mặt trận Điện Biên ở xa, khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết, khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị.
Bác thân mật nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
- Tổng Tư lệnh ra mặt trận, "Tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau.
Khi chia tay, Bác còn nhắc:
- Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.
Trên đường ra mặt trận, đến cây số 15 đường Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, xe của Đại tướng rẽ vào Thẩm Púa, nơi đặt chỉ huy sở. Trong không khí nhộn nhịp, Đại tướng gặp đầy đủ cán bộ của Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp, những người ở bộ phận tiền phương đã lên trước chiến trường một tháng.
Trước ngày 14-1-1954, trong cuộc hội ý Đảng ủy mặt trận đầu tiên ở chiến trường, đúng như lời đồng chí Hoàng Văn Thái, ý kiến chung là cần đánh ngay trong lúc địch chưa tăng thêm quân và củng cố công sự, có khả năng chiến thắng trong vài ngày đêm. Ai nấy đều tỏ ra hân hoan với chủ trương "đánh nhanh, thắng nhanh”.
Nhưng với tinh thần trách nhiệm trước sinh mệnh của hơn 40 ngàn quân tham chiến, với cương vị của người Tổng chỉ huy mặt trận, trên cơ sở tình hình đang diễn biến ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có cảm nhận nếu chọn phương án "đánh nhanh, thắng nhanh” là quá mạo hiểm. Vì vậy, Đại tướng đã gặp Trưởng đoàn cố vấn quân sự nước bạn Vi Quốc Thanh trình bày ý kiến, suy nghĩ của mình. Trưởng đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh cho biết, ông đã gặp số chuyên gia quân sự Trung Quốc và cán bộ quân sự Việt Nam có mặt trước ở chiến trường và tất cả đều nhất trí là cần đánh sớm, có nhiều khả năng giành chiến thắng. Sau khi cân nhắc, trưởng đoàn Vi Quốc Thanh nói: "Nếu không đánh sớm, nay mai địch tăng thêm quân và củng cố công sự thì cuối cùng sẽ không còn điều kiện công kích quân địch”.
Tuy cho rằng "đánh nhanh” không thể giành được thắng lợi, nhưng chưa đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án các đồng chí đi trước đã lựa chọn và cũng không còn thời gian báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, nên Đại tướng đã triệu tập hội nghị triển khai kế hoạch tác chiến.
Ngày 14-1-1954, mệnh lệnh chiến đấu tấn công Điện Biên Phủ được phổ biến trên một sa bàn lớn tại hang Thẩm Púa. Cán bộ cao cấp, trung cấp các đại đoàn tham chiến đều có mặt. Trong đó có những tư lệnh, Chính ủy Đại đoàn như Vương Thừa Vũ, Lê Trọng Tấn, Lê Quảng Ba, Đào Văn Trường, Nam Long, Quang Trung, Cao Văn Khánh, Chu Huy Mân, Phạm Ngọc Mậu… và nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đã cùng chiến đấu qua nhiều chiến dịch.
 
Hoãn thời gian nổ súng
Thời gian nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được quyết định là 17 giờ ngày 25-1-1954. Gần ngày nổ súng, một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị địch bắt. Bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nghe địch thông báo cho nhau qua điện đài về ngày giờ tiến công vào Điện Biên Phủ. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định hoãn thời gian nổ súng tiến công lại 24 tiếng đồng hồ. Từ khi giao nhiệm vụ chiến đấu cho các đơn vị đến lúc này chỉ mới mười một ngày. Nhưng thêm mỗi ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp càng nhận thấy rõ là không thể "đánh nhanh” được. Đại tướng nhớ lại lời dặn của Bác Hồ trước khi lên đường ra trận và nghị quyết của Trung ương hồi đầu năm là "chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!”. Càng nhớ, càng thấy gánh nặng trên đôi vai của một "tướng quân tại ngoại”. Sự đắn đo, suy tính cho việc thắng hay bại của trận quyết chiến chiến lược và cái giá phải trả bằng xương máu hy sinh của cán bộ, chiến sĩ đã khiến Đại tướng nhiều đêm không ngủ được, đặc biệt là đêm 25-1-1954.
Đại tướng nêu lên những lý do vì sao mọi người đều lựa chọn phương án "đánh nhanh” và tìm trước lời giải đáp. Cái lý do về vấn đề tiếp tế khó khăn, không phải hoàn toàn không có cách khắc phục, mà vấn đề chính là nếu thời gian chuẩn bị kéo dài, địch sẽ tăng thêm quân, củng cố công sự sẽ làm ta mất cơ hội diệt địch. Có nhiều người cho rằng, sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ đã làm cho quân địch choáng váng. Nhưng thực tế ta chỉ có vài ngàn viên đạn, không phải là yếu tố quyết định. Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Điều đó hoàn toàn đúng, nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Và, chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kể giá nào. Hơn nữa, từ đó đến thời điểm này tình hình địch đã thay đổi nhiều. Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội ta phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có…
Tất cả những khó khăn đó chưa được bàn bạc kỹ cách khắc phục. Đại tướng nhận thấy cần phải cho bộ đội rút ra khỏi trận địa để nghiên cứu cách đánh khác. Phải chuyển từ phương án "đánh nhanh, thắng nhanh” sang phương án "đánh chắc, tiến chắc”. Đồng thời, chỉ đạo cho Liên khu 5 đánh lên Tây Nguyên, điều lực lượng sang Thượng Lào để thu hút, phân tán địch.

 
Quyết định lịch sử
Sáng ngày 26-1-1954, văn phòng thông báo mời cuộc họp Đảng ủy Mặt trận. Trước khi vào họp Đảng ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tranh thủ thời gian gặp Trưởng đoàn cố vấn bạn Vi Quốc Thanh, nêu rõ tình hình và cho biết ý định của mình. Sau giây lát suy nghĩ, Trưởng đoàn cố vấn nói:
- Tôi đồng ý với Tổng tư lệnh. Tôi sẽ làm công tác tư tưởng với các đồng chí trong đoàn cố vấn.
Cuộc trao đổi ý kiến giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh trong vòng hơn nửa giờ. Đại tướng biết rằng Trưởng đoàn Vi Quốc Thanh không dễ dàng thuyết phục các chuyên gia Trung Quốc đã cho rằng chỉ có đánh nhanh mới giành được thắng lợi.
Cuộc họp Đảng ủy Mặt trận để đi đến thống nhất một quyết định có tính chất lịch sử hôm 26-1-1954, có đủ các ủy viên: Hoàng Văn Thái, Lê Liêm và Đặng Kim Giang…
Lúc đầu, một vài đồng chí muốn giữ vững quyết tâm và duy trì phương án đánh nhanh, thắng nhanh. Có đồng chí lo không đánh ngay, sau này lại càng không đánh được. Có đồng chí nói lần này ta có ưu thế về binh lực, có pháo 105 và cao xạ xuất hiện lần đầu tạo thế bất ngờ, lại có kinh nghiệm của bạn, nếu ta đánh nhanh vẫn có khả năng giành được thắng lợi. Có người nói đã động viên sâu rộng trong bộ đội về nhiệm vụ rồi, anh em tin tưởng và quyết tâm rất cao. Giờ nếu thay đổi thì giải thích làm sao cho bộ đội thông suốt?
 Đại tướng nhắc lại lời Bác Hồ trao nhiệm vụ mình trước khi lên đường: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và Bộ Chính trị, để bảo đảm yêu cầu trận đánh chắc thắng trăm phần trăm, Võ Đại tướng kiên trì phân tích những khó khăn của bộ đội ta chưa được bàn bạc khắc phục kỹ trước khi nổ súng.
Cuối cùng, Đảng ủy đi tới nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn nếu đánh nhanh ta chưa có biện pháp khắc phục, không thể bảo đảm chắc thắng như nghị quyết Bộ Chính trị đề ra và quyết định thay đổi cách đánh của một trận quyết chiến chiến lược từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh” đã được chuẩn bị trong thời gian khá dài, chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc” trong thời điểm chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là đến giờ nổ súng, đã thể hiện bản lĩnh và sự quyết đoán đầy tinh thần trách nhiệm đối với lịch sử và dân tộc của một vị danh tướng dưới thời đại Hồ Chí Minh.
Về sau, trong hồi ức "Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử”, Đại tướng đã nhớ lại:  "Ngày hôm đó (tức ngày 26-1-1954), tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình!”.
Ngày nay, tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ và đi vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta như một điểm son sáng chói. Đó chẳng những là thắng lợi quyết định dẫn đến chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương, mà còn góp phần làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Điều đó càng chứng minh sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh cách mạng tài tình của Đảng ta, của Trung ương và Bộ Chính trị, mà trước hết là của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã sáng suốt, nhìn thấy rõ phẩm chất, bản lĩnh và tài năng của từng cán bộ. Người đã vững tin ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc của mình.
 
Cổng thông tin điện tử Tỉnh Lào Cai
 

 

Nhớ mãi Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

 

QĐND - Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (thường gọi Khăm Tằn hoặc Ba Cung) đã ra đi trong sự thương tiếc của gia đình, người thân, đồng chí, đồng đội! Vẫn biết rằng sinh-tử là quy luật của tạo hoá, vậy mà hay tin ông mất, chúng tôi không khỏi bất ngờ, tiếc thương. Bất ngờ vì mới đây thôi, ở cương vị thường trực Ban liên lạc Đoàn B90, ông còn tích cực tham gia biên soạn nhiều đề tài lịch sử quân sự, tổng kết chiến tranh và luôn lạc quan trong cuộc sống để vượt qua bệnh tật hiểm nghèo .

Sinh ra trong một gia đình nông dân tại xã Vạn Định, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định giàu truyền thống yêu nước, tháng 8 -1945, Phùng Đình Ấm tham gia lực lượng thanh niên giành chính quyền tại Phù Mỹ, sau đó vào bộ đội địa phương tỉnh. Trải qua hơn 50 năm trong quân ngũ, ông đã từng chiến đấu trên các chiến trường Khu V, Đông bắc Cam-pu-chia, tham gia đoàn B90 soi mở đường Hồ Chí Minh từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Cam-pu-chia. Ở cương vị công tác nào ông cũng hoàn thành xuất sắc.

Nhớ mãi Thiếu tướng Phùng Đình Ấm
Thiếu tướng Phùng Đình Ấm( bên trái) bên bia tưởng niệm nơi Đoàn B90 gặp Đoàn C-200.

Phần lớn cuộc đời hoạt động cách mạng của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm gắn liền với công tác vận động quần chúng ở vùng đồng bào dân tộc Nam Tây Nguyên và làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Cam-pu-chia. Ông đã cà răng, đóng khố, cùng sống và làm việc với đồng bào dân tộc thiểu số. Là người có trí thông minh thiên phú, ham học hỏi nên chỉ trong một thời gian ngắn, Phùng Đình Ấm đã biết nói, biết đọc tiếng Mnông, tiếng Khơ-me. Chính sự thông thạo nhiều thứ tiếng đã giúp cho ông hiểu rõ dân hơn, vận động dân tốt hơn và được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Cũng chính những kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã giúp Phùng Đình Ấm nắm bắt kịp tình hình nhiệm vụ, đề xuất với trên về phương hướng, biện pháp giúp lực lượng cách mạng chân chính của Cam-pu-chia đánh đổ bọn diệt chủng, xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Là một cán bộ chính trị trưởng thành trong chiến đấu, Thiếu tướng Phùng Đình Ấm hiểu sâu sắc những giá trị về giáo dục truyền thống trong quân đội và lực lượng vũ trang, nên những năm tháng nghỉ hưu, ông luôn tích cực tham gia công tác giáo dục truyền thống, biên soạn lịch sử các đơn vị LLVT Quân khu 7. Chính ông đề xuất với các đồng đội của Đoàn B90, thành lập Ban liên lạc truyền thống B90 và C200, rồi từ đó ông cặm cụi sưu tầm tư liệu, viết thư gửi Ban Bí thư Trung ương Đảng trình bày mục đích, ý nghĩa và kế hoạch biên soạn cuốn lịch sử Đường Hồ Chí Minh đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ. Từ đó Ban Bí Thư đã chỉ đạo Tổng Cục chính trị, Quân khu 7, Viện lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức triển khai hội thảo khoa học Đường Hồ Chí Minh đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ nhân 50 năm ngày thành lập bộ đội Trường Sơn. Có lẽ nhiều người đã được chứng kiến trong các kỳ kỷ niệm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, Tổng kết công tác tuyên truyền những năm gần đây của Quân khu 7, nhiều lần Ban tổ chức mời Thiếu tướng Phùng Đình Ấm lên nhận phần thưởng của Tư lệnh Quân khu về thành tích viết nhiều bài báo có giá trị tuyên truyền giáo dục cao trong LLVT Quân khu.

Là một cộng tác viên tích cực của Báo Quân đội nhân dân, Thiếu tướng Phùng Đình Ấm còn đam mê viết sách và trực tiếp biên soạn nhiều cuốn sách như: "Người đi thắp sáng quê hương”; “Một thời để nhớ”; “Mở đường Hồ Chí minh đoạn từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ”; “Mặt trận 479 trên đất nước Angkor”; “Lịch sử Quân khu 10 trong kháng chiến chống Mỹ”… Những tác phẩm của ông giúp cho người đọc cảm nhận được những năm tháng kháng chiến oai hùng của dân tộc, những kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ cách mạng mà đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị.

Còn nhiều điều cần nói về Thiếu tướng Phùng Đình Ấm. Cuộc đời hoạt động cách mạng nhiệt tình, sôi động và trong sáng của ông còn lắng đọng mãi trong những người thân yêu, những đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Nhớ về ông là nhớ về một vị tướng, một cán bộ chính trị tài ba, một người viết báo, viết sách đầy trách nhiệm.

Đại tá, Thạc sĩ  NGUYỄN VĂN HÙNG/qđnd.vn

 

Thương nhớ anh Ba Cung

Thứ sáu, 18/02/2011, 01:28 (GMT+7)

Sau Tết Tân Mão, đang công tác tại Hà Nội, tôi nghe tin anh Ba Cung (Thiếu tướng Phùng Đình Ấm) ốm rất nặng. Vào TPHCM, chưa kịp đến thăm anh, đã nghe tin anh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2 giờ 00 ngày 16-2-2011 (tức 14 tháng Giêng năm Tân Mão). Tôi vội vàng cùng đồng đội chạy đến Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng tại số 5 đường Phạm Ngũ Lão, quận Gò Vấp để nhìn mặt anh lần cuối. Trong bộ quân phục cấp tướng còn mới, anh Ba nằm đó, gương mặt đầy đặn, thanh thản, mắt nhắm nghiền như đang ngủ. Người thân trong gia đình, bạn bè, đồng đội quây quần bên anh. Dường như trong số ấy có cả những cô gái, chàng trai, già làng vừa từ trên những cánh rừng Trường Sơn đại ngàn và bà con các dân tộc trên đất nước Chùa Tháp về viếng anh.

Thủ tướng Vương quốc Campuchia Xăm Đech Hun Sen và Thiếu tướng Phùng Đình Ấm trong buổi lễ trao tặng Huân chương Tự do.

Kỷ vật của người lính Cụ Hồ

Tôi gặp anh Ba Cung lần đầu cách đây gần 35 năm. Ngày ấy tôi vừa từ Sư đoàn 5 về công tác tại Báo Quân khu 7. Chưa gặp mặt lần nào nhưng chúng tôi đã đọc các bài viết của nhau trên báo. Lại nữa, biết tôi đã có thời kỳ sống và chiến đấu trên đất bạn Chùa Tháp, nói được dăm ba tiếng Campuchia, nên anh Ba vui vẻ, thân tình lắm. Tôi không ngờ suốt 35 năm sau đó, chúng tôi luôn gắn bó với nhau.

Tôi nhớ cách đây không lâu, tuy người không được khỏe, anh Ba vẫn chống gậy đến tìm tôi ở tòa soạn. Anh báo tin mừng, vừa được Thủ tướng Vương quốc Campuchia Xăm Đech Hun Sen trao tặng Huân chương Tự do - huân chương cao quý nhất của nhà nước Campuchia vì những đóng góp của anh cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam trong 3 lần sát cánh với nhân dân Campuchia chống Pháp, chống Mỹ và bè lũ Pôn Pốt.

Là đứa trẻ mồ côi trên đất Vạn Phú (Bình Định), năm 16 tuổi, cậu bé Phùng Đình Ấm đã hòa theo dòng người cướp chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám tại quê nhà - làng Dương Liễu. 2 năm sau đó, anh Ba nhập ngũ làm lính Cụ Hồ và gần như hết cả tuổi thanh xuân, anh dành cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và đất nước Chùa Tháp.

Sau này anh viết cuốn sách Ba lần gắn bó đất nước Chùa Tháp kể lại những kỷ niệm về một thời sống, chiến đấu trên đất bạn được chính Thủ tướng Vương quốc Campuchia viết lời giới thiệu và dịch. Anh Ba đã thực sự là người con của nhân dân Campuchia anh em. Đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, anh Ba có tình cảm đặc biệt. Anh chính là một trong những người lính Cụ Hồ mang ánh sáng cách mạng đến cho đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Tôi nhớ, hồi còn công tác tại Quân khu 7, có lần anh Ba bí mật cho tôi xem một kỷ vật. Anh Ba kể rằng, năm 1959, trước khi trở lại miền Nam chiến đấu, anh được gặp Bác Hồ. Trước đó, anh đã ra chợ Đồng Xuân (Hà Nội) mua cuốn sổ để ghi lời dạy của Bác. Anh còn tìm được tấm ảnh của Bác bằng vải lụa. Những năm kháng chiến gian khổ, anh đưa ảnh Bác Hồ và truyền đạt những lời Bác dạy cho đồng bào Tây Nguyên.

Cách đây gần 10 năm, anh Ba đem tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh TPHCM) tấm ảnh quý giá đó. Tấm ảnh Bác Hồ bằng vải lụa ấy gắn liền kỷ niệm của anh Ba với gia đình người nông dân nghèo Tà Phưn trên đất Campuchia. Những câu chuyện về Bác mà anh Ba kể đã làm nhân dân Campuchia thêm yêu quý bộ đội Cụ Hồ. Cô con gái chủ nhà tên là Văn Ni đã nhận anh là anh trai và bà mẹ Tà Phưn đã đặt tên cho anh là Khăm Tằn. Không biết trong dòng người đến viếng anh Ba hôm nay có bà mẹ Tà Phưn và người con gái Campuchia có cái tên thật đẹp Văn Ni ấy?

Bài báo khóc Đại tướng

Những tháng gần đây, sức khỏe anh Ba sa sút nghiêm trọng. Nằm trên giường bệnh nhưng anh Ba vẫn miệt mài làm việc. Anh thường xuyên gửi cho chúng tôi những bài báo do chính anh viết. Nét chữ anh Ba còn đằng tà, ngay ngắn lắm.

Tôi nhớ khi lũ chồng lũ vào cuối năm qua ở miền Trung, nằm trên giường bệnh, anh Ba khôn nguôi nhớ đến bà con vùng thiên tai. Anh Ba viết thư nhờ chúng tôi gom hết số nhuận bút các bài đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng (tổng cộng 2.190.000 đồng) gửi tặng đồng bào miền Trung. Ban Chương trình - Xã hội của Báo đã cử cán bộ chuyển tận tay bà con vùng lũ món quà tình sâu, nghĩa nặng của anh Ba.

Cũng vào khoảng cuối năm ngoái, nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước vào tuổi 100, anh Ba gửi về tòa soạn Báo Sài Gòn Giải Phóng nhiều bài. Anh đề nghị cho đăng trên tờ báo Đảng kiến nghị của anh cũng là kiến nghị của các tướng lĩnh, cựu chiến binh và nhân dân phong hàm Nguyên soái và phong tặng danh hiệu Anh hùng Dân tộc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và, một điều thật xúc động nữa, chắc là biết mình sắp đi xa không có mặt trong ngày Đại tướng quy tiên, anh Ba đã viết bài báo khóc Đại tướng.

Trước hương hồn anh Ba – Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, tôi xin phép trích nguyên văn một đoạn bức thư này. “Kính gửi đồng chí Trần Thế Tuyển, Tổng biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam đã 100 tuổi. Tôi nghĩ ngày Đại tướng vĩnh viễn ra đi chắc không còn xa nữa. Với lòng ngưỡng mộ, thương yêu Đại tướng, tôi tự nhiên viết bài này gửi đến đồng chí Tổng biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng (tờ báo lớn của Đảng ở thành phố) để chuẩn bị trước. Đề nghị đồng chí khi nào nghe tin Võ Đại tướng từ trần, trút hơi thở cuối cùng thì biên tập và cho đăng lên báo, gọi là chút tri ân với người đã khuất...”.

Anh Ba ơi, Thủ trưởng Thiếu tướng Phùng Đình Ấm ơi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn còn đây, bài báo khóc Đại tướng vẫn còn đây mà anh đã ra đi về cõi vĩnh hằng.

Xin anh Ba cứ thanh thản yên nghỉ, những người lính của Bác Hồ, của Võ Đại tướng và của anh sẽ đi tiếp chặng đường mà Bác Hồ, Võ Đại tướng và các thế hệ cha anh đã đi.

Ngày thơ Tết Nguyên tiêu năm nay vắng bóng anh nhưng những câu thơ của anh trong tập Chúng tôi đánh giặc và làm thơ cứ vang lên trên Bến Nhà Rồng, nơi cách đây gần 100 năm, Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Bến Nhà Rồng đêm rằm tháng Giêng Tân Mão

Trần Thế Tuyển

 

 

Nửa thế kỷ ghi nhớ và làm theo lời Bác dạy

9:57 am thứ hai, ngày 31 tháng tám năm 2009

Từ đứa bé mồ côi, bơ vơ giữa dòng đời, lặn ngụp trong xã hội đen tối nô lệ, tôi bỗng trở thành công dân của nước Việt Nam độc lập tự do, rực rỡ sao vàng. Cách mạng tháng Tám đã thực sự cho tôi một cuộc đời mới.
 

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, tức Ba Cung tiếp chúng tôi trên giường bệnh, giữa hai đợt chạy thận. Sức khỏe ông, dù bị bào mòn bởi thời gian và bệnh tật, nhưng trí nhớ vẫn mẫn tiệp. Từ những ngày đầu tham gia “đội tự vệ sắt”, cướp chính quyền đến những ngày vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, những ngày xông pha trên đất bạn Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế, nhất là những mẫu chuyện về Bác, ông nhớ rõ từng chi tiết nhỏ…
 

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

 Trong 2 ngày 29 và 30/8, kỷ niệm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Hội diễn nghệ thuật quần chúng cựu chiến binh thành phố Đà Nẵng lần II/2009 diễn ra với sự tham gia của 14 đoàn, 370 diễn viên với 73 tiết mục gồm nhiều thể loại phong phú được chọn lọc qua phong trào hoạt động văn hóa văn nghệ của CCB từ các cấp. Trong đó, các đoàn của khối quận, huyện có tất cả các thành viên đều là CCB. Hội diễn lấy tinh thần “Hát mãi khúc quân hành” phản ánh truyền thống và chân dung người lính cụ Hồ giữa đời thường.

Bảo tàng Trà Bồng đến nay đón trên 10.000 lượt người ở các địa phương trong tỉnh đến thăm nhân dịp kỷ niệm 64 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và 50 năm ngày Khởi nghĩa Trà Bồng, miền Tây Quảng Ngãi (28/8/1959 –28/8/2009). Bảo tàng Trà Bồng hiện trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật về cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền tây Quảng Ngãi, hình ảnh về cuộc sống của người dân và sự phát triển, đi lên của địa phương sau hơn 30 năm giải phóng.

“Di chúc không viết lên đá, khắc lên vàng chói lọi/Mà trên bản tin hằng ngày, lật lại/ Sau bản tin một hôm, Người ký thác chuyện muôn đời…” Khẽ ngâm nga vài câu thơ trong bài thơ “Di chúc của Người” của nhà thơ Chế Lan Viên, Thiếu tướng mở đầu buổi trò chuyện với Đất Việt bằng một vẻ trầm ngâm: Ký thác của Bác vào thế hệ sau sâu nặng lắm. Đó là niềm tin Người gửi vào Đảng ta, vào các thế hệ lãnh đạo làm sao cho lá Quốc kỳ mãi thắm màu đỏ sao vàng, dân tộc ta được ấm no, hạnh phúc nối tiếp truyền thống những ngày khởi nghĩa, những ngày cách mạng hào hùng.

Cách mạng tháng Tám thay đổi cuộc đời tôi

Xin Thiếu tướng chia sẻ cảm xúc của mình về không khí cướp chính quyền trong ngày những ngày đầu Cách mạng tháng Tám mà ông từng tham gia?

Giữa tháng 7/1945, tôi được ghi danh vào đội tự vệ của Việt Minh, tham gia đánh phá trụ sở, cảnh cáo bọn cầm đầu thân Nhật ở Vạn Phú tỉnh Bình Định và chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền ở địa phương. Ngày 23/8/1945, nhân dân tỉnh Bình Định cướp chính quyền thành công ở Quy Nhơn. Nhân dân Dương Liễu quê tôi, người mang dao rựa, người vác gậy gộc kéo nhau diễu hành vũ trang rầm rộ. Khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm!”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!” được hô vang trời, dậy đất. Cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại đình Dương Liễu, lý trưởng Nguyễn Hựu giao nộp đồng triện cho cách mạng lâm thời…



Lãnh đạo TP HCM trao đổi với các đại biểu bên lề Hội thảo khoa học về Di chúc của Bác Hồ. Ảnh: Phong Khê

Hòa trong dòng người vũ trang tuần hành và dự lễ mít tinh cướp chính quyền, tôi thấy mình bỗng vụt lớn lên. Từ đứa bé mồ côi, bơ vơ giữa dòng đời, lặn ngụp trong xã hội đen tối nô lệ, tôi bỗng trở thành công dân của nước Việt Nam độc lập tự do, rực rỡ sao vàng. Cách mạng tháng Tám đã thực sự cho tôi một cuộc đời mới.

Từng gặp Bác Hồ và nghe lời Bác căn dặn trước khi vào Nam nhận nhiệm vụ, ông nhớ nhất điều gì trong lần gặp gỡ đó?

Hành trang chuyến vào Nam ngày ấy là tấm ảnh Bác Hồ bằng lụa được tôi cất rất kỹ và lời căn dặn của Người: “Phải biết vận động nhân dân miền Nam, cùng với nhân dân miền Nam làm cách mạng thì cách mạng mới thành công và phải giữ gìn “đoàn kết”. Bác đã dạy chúng tôi về quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, phải dựa vào quần chúng, phải vận động quần chúng một cách giản dị, dễ hiểu và dễ nhớ nhưng cần thật sâu sắc.

Lời dạy ấy của Bác khắc sâu vào tâm trí tôi và càng thấm thía hơn từ ngày về đến chiến trường miền Nam, hơn 10 năm sống và chiến đấu chung với đồng bào dân tộc Nam Tây Nguyên (1959-1970) và sau đó trải qua các chiến trường Campuchia, Đông Nam Bộ… Bất cứ ở đâu, cương vị nào và lúc nào, bài học về quan điểm quần chúng và đoàn kết Bác đã dạy cũng trở thành kim chỉ nam để giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ và trưởng thành.

Cho đến hôm nay, lời Bác dạy năm xưa vẫn mãi mãi là bài học vô cùng quý báu đối với tôi. Đã nửa thế kỷ trôi qua (1959 – 2009) nhưng hình ảnh cuộc gặp gỡ Bác Hồ và lời dạy của Bác mãi còn sâu đậm trong lòng tôi không bao giờ quên.

Bài học hết lòng phục vụ nhân dân

Cản nhận của Thiếu tướng về chặng đường 40 năm thực hiện Di chúc của Người?

Cả cuộc đời Bác tập trung cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở nước ta. Bao năm qua, hình ảnh Bác đã đi sâu vào xã hội Việt Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn thể nhân dân cả nước.
 
Trong di chúc, Bác căn dặn Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Bác cũng thường dạy “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Rõ ràng, tâm điểm của mọi suy nghĩ và hành động của Bác đều xuất phát từ dân, vì dân. Đó là bài học tinh túy và sâu sắc, không chỉ với riêng tôi, mà đối với bất kỳ đảng viên, cán bộ công chức nào. Thấm nhuần bài học này, để hiểu dân, trọng dân, hết lòng phục vụ nhân dân.

Bao năm tôi từng đi khắp chiến trường Phú Khánh, Tây Nguyên, Hạ Lào, Đông Nam Bộ và ba lần làm quân tình nguyện trên đất nước Campuchia, đến đâu, tôi cũng được nhân dân đùm bọc chở che, yêu thương, nuôi dưỡng. Tôi nhớ mãi một kỷ niệm, đó là ngày 24/4/2000, tôi cùng đoàn quy tập hài cốt liệt sỹ của Tổng cục Chính trị đi tìm ngôi mộ chôn cất liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình, nguyên Tư lệnh Quân khu 7, Tư lệnh Nam Bộ đã hy sinh trên đất nước Campuchia từ năm 1951 trên đường về Trung ương. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của dân làng phum Kpal Rô-mía, nơi an táng phần mộ Trung tướng mà cuộc tìm kiếm tưởng chừng như rất khó khăn lại hóa ra dễ dàng. 49 năm, ngôi mộ của Trung tướng Nguyễn Bình không bị thất lạc, không bị cây rừng xâm thực, hài cốt vẫn còn nguyên vẹn là nhờ có tấm lòng của nhân dân Campuchia. Tôi càng thấm thía lời dạy của Bác “Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Trong lúc này, nhất là khi vào giai đoạn hai của Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", chúng ta, đặc biệt là những cán bộ công chức càng cần soi rọi lời dạy của Bác vào từng hành động, việc làm khi phục vụ nhân dân.

Xin cám ơn thiếu tướng!



Tâm điểm của các hoạt động văn hoá thể thao chào mừng 64 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh của nhân dân các dân tộc Lào Cai được hướng vào "Tuần lễ văn hoá du lịch huyện Bảo Yên". Đây là lần đầu tiên Bảo Yên đứng ra đăng cai một hoạt động văn hoá cấp tỉnh nằm trong Chương trình du lịch về nguồn hợp tác giữa ba tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, kéo dài từ ngày 2/9 đến 5/9. Lễ khai mạc sẽ được tổ chức đúng dịp kỷ niệm 64 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, 40 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sáng 30/8, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trao tặng Huân chương của Chủ tịch nước, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, nhân dịp kỷ niệm 64 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2.9. 
 
Nhân dịp kỷ niệm 64 năm cách mạng tháng tám và quốc khánh 2/9, Sở Văn Hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang kết hợp với Sở Giáo dục - Đào tạo và Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tổng kết trao tặng 63 giải thưởng Hội thi vẽ tranh dành cho thiếu nhi thực hiện đề án”Giải thưởng Mỹ thuật Thiếu nhi Việt Nam”, trong đó có 3 giải Nhất, 6 giải Nhì, được Ban giám khảo chấm chọn từ 180 tác phẩm của 180 tác giả học sinh từ mẫu giáo đến THCS của 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và câu lạc bộ Nhành cọ non của thành phố Long Xuyên. Đây là lần thứ hai tỉnh An Giang tổ chức Hội thi nằm trong đề án “Giải thưởng Mỹ thuật Thiếu nhi Việt Nam”, thu hút đông đảo thí sinh tham dự, được các em thể hiện sinh động về thế giới tuổi thơ trong sáng đầy tình cảm yêu thương với Bác Hồ, Bác Tôn.

Theo www.baodatviet.vn

 

 

PHÙNG ĐÌNH ẤM. Trở về Nam chiến đấu / Thiếu tướng Phùng Đình Ấm kể; Minh Anh ghi // Sài Gòn giải phóng. - 2009. - Ngày 25 tháng 4. - Tr.3

Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, nguyên Đoàn phó B90, nay đã 80 tuổi đời nhưng vẫn rất minh mẫn. Tháng 4 năm nay, tuy đang bị căn bệnh thận hành hạ từng giờ nhưng ông vẫn đi thăm lại Bia kỷ niệm giao lien hai miền gặp nhau nối thong hành lang Bắc – Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngày 30-10-1960, tại thôn 3 xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Gần 50 năm trước, ông là một trong những cán bộ chiến sĩ miền Nam đầu tiên tập kết, trở về Nam chiến đấu, đi theo đường Trường Sơn.
Ông hồi tưởng: “Thi hành hiệp định Giơnevơ, chúng tôi ra miền Bắc và xây dựng XHCN. Trong khi đó bọn Mỹ-Diệm ngang nhiên phá hoại hiệp định, tàn sát khủng bố nhân dân, trả thù người kháng chiến. Chúng đã gây biết bao đau thương trên khắp miền Nam. Lòng chúng tôi như lửa đốt và chỉ mong ước có đôi cánh để bay thẳng vào Nam chiến đấu. Rồi hạnh phúc như vỡ òa khi chúng tôi nhận lệnh về Nam…”
Liệt Sĩ Đầu Tiên
 Đoàn B90 được thành lập ngày 25-5-1959, có nhiệm vụ dựa vào cơ sở ở Nam Tây Nguyên để mở đường, bắt liên lạc với Xứ ủy và lực lượng vũ trang Nam bộ, nối liền hành lang xuyên suốt Bắc - Nam trên dẫy Trường Sơn vốn bị “đứt đoạn” từ Nam Tây Nguyên. Đoàn B90 có 25 cán bộ chiến sĩ.
Đoàn 559 thành lập xong, Quân ủy TƯ quyết tổ chức một đoàn độc lập, đặc trách gầy dựng cơ sở, nhanh chóng mở con đường ở cuối dãy núi Trường Sơn, xuyên qua “vùng trắng” chưa có cơ sở cách mạng, nối liền đường Trường Sơn với Tây Nguyên và Đông Nam bộ, để sự chi viện của TƯ về tận chiến trường Nam bộ. Biết rằng vào đây là “vùng trắng” cực kỳ nguy hiểm nên ngoài các tiêu chuẩn về đức và tài, những người được tuyển chọn còn phải có một tiêu chuẩn đặc biệt: “không có gia đình và người yêu ở miền Bắc”. Mục đích là để giữ tuyệt đối bí mật, không ai “vương vấn” hậu phương để gánh trách nhiệm cực ky quan trọng. Đoà công tác đặc biệt ấy lấy phiên hiệu là B90.
Trong đoàn, tôi quý nhất là thượng sĩ y tá Trần Văn Thời, trẻ nhất đoàn. Vì anh em thương nhau nên Thời thổ lộ lằng đã có người yêu trong thời gian đóng quân ở xứ Thanh. Hai người đã hẹn ước sẽ yêu nhau trọn đời và chuẩn bị cưới nhau thì Thời nhận lệnh vào Nam chiến đấu. Sau nhiều đêm dằn vặt, Thời  gạt nước mắt nói dối người yêu để giữ bí mật theo chủ trương của Đảng.
 Kể với tôi chuyện tình yêu và người vợ sắp cưới của mình, Thời như nghẹn ngào chực khóc dù trước mặt nàng, anh vẫn phải giữ vẻ bình thản, tươi cười. Anh mong đến ngày đất nước thống nhất, sẽ trở về xứ Thanh tạ tội và thú thật cùng người yêu bởi Thời ra đi là vì sứ mạng cao cả của Tổ quốc. Theo lời Thời kể, tôi mường tượng rằng người thôn nữ mà anh yêu rất đẹp, da trắng, tóc dài và chân thật vô cùng. Vậy mà trong chuyến vượt sông ĐăkR’Tih “Đồng Nai Thượng” để bắt liên lạc thông suốt đường Trường Sơn, Thời đã anh dũng hy sinh mang theo mối tình đẹp như hoa của mình. Hôm ấy, Thời xung phong cầm một đoạn dây bơi ngang để dùng chính đoạn  dây ấy làm tay vịn cho đồng đội băng sông. Đặc thù là lũ ở Trường Sơn rất phức tạp, khi bơi mực nước chỉ ngang bụng nhưng đến giữa dòng, nước có thể đột ngột dâng cao ngang... mái nhà. Thời bơi đến giữa dòng thì lũ về, tôi còn nhớ tiếng Thời hét: “Cứu em” rồi bị nước cuốn trôi mất.
Như vậy, Trần Văn Thời chính là liệt sĩ đầu tiên Của Đoàn B90 trong sự nghiệp mở đường cuối dãy Trường Sơn. Nhớ lại vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc của Thời khi kể về người yêu, mà đến giờ, 50 năm sau, tôi còn cảm thấy đau đớn. Có lẽ bây giờ, người thôn nữ xứ Thanh năm nào đã hiểu nỗi lòng của Trần Văn Thời!
Tình nghĩa đồng bào
Tất Cả những gì thuộc về miền Bắc như bằng khen, huân huy chương, quân hàm, hình ảnh, quân phục... đều được gửi lại.Cán bộ chiến sĩ đòan B90 đội mũ rộng vành, mình khoác áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, chân đi dép lốp theo đúng kiểu du kích miền Nam đẻ giữ bí mật. Vũ khí trang bị cho mỗi người gồm 1 súng Colt 12, một tiểu liên giảm thanh và 2 cơ số đạn. Trang bị đi đường gồm võng kaki, tăng nóc vải nhựa che mưa, gạo, lương khô…có tổng trọng lượng 20kg. Vậy nhưng tôi vẫn “xé rào” mang theo bức ảnh Bác Hồ bằng lụa, Tập thơ Từ ấy của Tố Hữu và quyển vở học tiếng M’Nông. Trong đoàn có đồng chí Kpă Ngãi, dân tộc H’Roi đi tập kết, rất thạo tiếng M’Nông. Trên đường vượt Trường Sơn, tôi vừa đi vừa học, mỗi ngày quyết tâm học 3 từ, cho nên khi đến Nam Tây Nguyên tôi đã có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ trên với đồng bào M’Nông bản địa. Có già làng còn bảo : “Mày là con của ngừời M’Nông” nữa. Tuy nhiên, nếu không có đồng bào, có lẽ chưa hẳn Đoàn B90 đã hoàn thành nhiệm vụ. Ấy là khi đến địa phận Quảng Nam, đồng bào Cơ Tu ở làng LơPơ đã ùa ra đón bộ đội và quàng vào cổ chúng tôi những tấm Ru (thổ cẩm) mới tinh tươm ; còn khi đến làng Tăng Đam, một cậu bé đã tặng tôi một buồng chuối chín vàng để “trả ơn chú bộ đội cho cây kim vá áo” ; một ông lão tặng “bộ đội về từ đất Cụ Hồ” mấy ống nước đoác (lấy từ cây đoác) bởi vì thấy tụi bây là đồng bào vui cái bụng lắm rồi...
“Đi không dấu”
 Không biết từ đâu, do ai đặt ra, phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” đã trở thành luật bất thành văn mà bất cứ đoàn nào hành quân qua Trường Sơn cũng đều tuân thủ triệt để, nghiêm khắc. Ngay tại vĩ tuyến 17, các lối mòn đều có công an của ta quan sát rất kỹ và đặt nhiều ký hiệu trên đường để theo dõi kẻ thù. Thế mà Đoàn B90 vẫn lặng lẽ đi qua, các chiến sĩ giao liên đã tháo dỡ ký hiệu, mật hiệu gắn trên cây, đường rồi sắp xếp lại y như cũ... khéo đến nỗi công an giới tuyến của ta cũng không biết có cả đoàn người đi qua.
 Mấy năm tập kết ra Bắc sống trong hòa bình, một bước đi là mang dép, mang giày. Thế mà nay vượt Trường Sơn, chúng tôi phải tháo dép ra để đi chân trần. Có thể nói đây là cái khổ nhất trong trăm ngàn nỗi khổ của bộ đội Trường Sơn: chân ai nấy phồng rộp, có người bong cả mảng da gót… Khi vượt Đường 9, anh chiến sĩ đi sau cùng của đoàn kéo theo một cành cây tươi đầy lá để xóa toàn bộ dấu chân. Đến Bến Tắt (thượng nguồn sông Bến Hải), chúng tôi vượt sông trên một con đò im lặng đến nao lòng. Chỉ nghe tiếng mái dầm khua nước và hơi thở nhẹ của ông lão chèo đò. Không được phép nói chuyện, tôi lặng lẽ bắt tay ông và biết đó là sự hy sinh thầm lặng mà to lớn của nhân dân, sự hy sinh “vô danh”.
 Sau 4 tháng gian khổ xẻ dọc Trường Sơn, Đoàn B90 đã đến Tây Nguyên để cùng với Đảng bộ Đắc Lắc mở đường nối hậu phương miền Bắc đến tận chiến trường Nam bộ.
 Tròn nửa thế kỷ trôi qua, tôi vừa đến địa điểm đóng quân cũ (đỉnh núi Bsa Dariel thuộc huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng ngày nay) và vui mừng nhận thấy nơi đây đã có cột bìa lịch sử, bằng đá hoa cương, khắc biểu tượng đôi tay siết chặt nhau của người du kích miền Nam và anh bộ đội vừa tập kết từ miền Bắc trở về. Bến dứơi cột bia có dòng chữ “Bia kỷ niệm giao liên hai miền gặp nhau nối thông hành lang Bắc-Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngày 30-10-1960”.
 
 
 
 
 
Nguồn:  
 
 
 
 
Bức thư đầu năm - bức thư cuối cùng của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm 



Kính gửi: Ban Liên lạc và anh chị em, các cháu đồng hương xã Mỹ Lợi – Thị trấn Bình Dương (huyện Phù Mỹ - Tỉnh Bình Định) tại TP. Hồ Chí Minh

Tôi là Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, nguyên là Trưởng ban Liên lạc đồng hương xã Mỹ Lợi (nay vì quê nhà tách ra thành hai địa danh hành chính nên gọi là đồng hương Mỹ Lợi – Bình Dương), vì vốn là dân của bốn thôn Dương Liễu, Chánh Khoan, Phú Ninh, Mỹ Phú thống nhất lại từ sau cách mạng tháng Tám thành công, đã từng chung lưng đấu cật xây dựng xã nhà và cùng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, chúng ta là những người tha phương cầu thực, cần giữ cái tổ chức đồng hương Mỹ Lợi – Bình Dương cho nhớ lại cội nguồn. 

Thưa các anh chị em và các cháu. Sinh ra ở Dương Liễu, lớn lên tham gia cách mạng trước khởi nghĩa và trưởng thành ở xã Mỹ Lợi. Thoát ly gia đình làm người chiến sĩ bộ đội cụ Hồ, qua nửa thế kỷ trong quân đội, đi và chiến đấu trên khắp ba chiến trường Đông Dương : Việt Nam, Lào, Căm pu chia. Nhưng dẫu đi đến góc biển chân trời nào, tôi cũng một lòng hướng về và thương nhớ quê hương, xác định mình là con dân của Bình Dương-Mỹ Lợi. Năm 1991, tôi rời chiến trường Căm Pu Chia và tháng 11 năm 1996 tôi dời tay súng trở về với đời thường và nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Ở đây tôi gặp nhiều người Mỹ Lợi, là những bạn thân nhau từ thuở ấu thơ, có người là đồng đội, có người là con em của bạn bè thân hữu. Tôi nảy sinh muốn lập hội đồng hương để có dịp họp mặt , thăm hỏi nhau, động viên nhau trong những ngày sinh sống, bươn chải ở thành phố phồn hoa nhưng cũng lắm gian nan nầy, cho đỡ bớt nỗi niềm tha phương, xa nơi chôn nhau cắt rốn. Tháng 10 năm 1993, tôi gặp và trao đổi với anh Đặng Chanh và nhà doanh nghiệp Đặng Vui, sau đó với anh Nguyễn Ninh trong cuộc họp mặt đồng hương Phù Mỹ. Các anh hoan nghênh và Đặng Vui tự nguyện là nhà tài trợ cho cuộc họp đầu tiên làm cái nền để tổ chức, đồng thời động viên ai hảo tâm đóng góp để có kinh phí họp mặt và quyết định cuộc họp đồng hương Mỹ Lợi vào ngày mùng sáu Tết năm 1994, địa điểm tại Hội trường nhỏ của Bảo tàng miền Đông Nam Bộ, cử Phùng Đình Ấm làm Trưởng ban chủ trì. Đặng Chanh phụ trách Ban Tổ chức, Nguyễn Ninh phụ trách quản lý tài chính. Đặng Vui nhà tài trợ lần đầu 5 triệu đồng. Ngày hội đầu tiên qui định vào ngày mùng 6 Tết , là chủ nhật đầu tiên sau Tết Nguyên Đán. Thành phần dự hơn 30 người. 

Cuộc họp đầu tiên thật dồi dào tình cảm, có người quen nhưng chưa thân, có người cùng quê nhưng mới gặp nhau lần đầu, có người là bạn chí thân, anh em ruột thịt nhưng xa nhau hai, ba mươi năm mới gặp lại. Niềm ưu ái đồng hương quện vào nhau và bộc ra qua từng tiếng cười, nét mặt, từng cái bắt tay trìu mến thân thương. Họ chúc mừng năm mới, hỏi thăm sức khỏe, con cái và cuộc sống. Rồi “Mỗi cay một hoa, mỗi nhà một cảnh” họ kể cho nhau những bước thăng trầm từ trong thời kỳ chống Mỹ cũng như thời gian kiến tạo mái ấm trong thời bình. Họ khuyên nhau, người già thì cố sống vui, sống khỏe, sống có ích trong những ngày cuối đời; người trẻ thì học tập, ước mơ, hoài bão và thành đạt lớn, rồi cùng hòa với nhau trong tiếng cụng ly và hơi bia đầu năm. Rồi sau đó, tôi giới thiệu danh sách Ban Liên lạc Hội đồng hương Mỹ Lợi (sau nầy là Mỹ Lợi - Bình Dương). Lúc đó gồm có Phùng Đình Ấm, Đặng Văn Vui, Đặng Chanh, Đặng Sanh Châu, Nguyễn Văn Sự, Nguyễn Văn Ninh, và phân công là Phùng Đình Ấm Trưởng ban, Đặng Chanh ủy viên thường trực phụ trách tổ chức và nhân sự (đại biểu), Nguyễn Văn Ninh ủy viên Thường trực phụ trách tài chính (thu chi quĩ), được tòan thể anh chị em đồng vỗ tay tán thành. Sau đó kẻ ít người nhiều đóng góp cho quĩ hội. Ngoài anh Đặng Vui tài trợ cho cuộc họp, có anh Nguyễn Văn Tài góp cho quĩ 50 đô la Mỹ và nói Hội giao anh Ninh làm tài chính thủ quĩ không sợ mất một xu, rồi anh xin về vì ngày mồng sáu Tết ngày anh phải khai trương cửa hàng và cũng từ đó, các cuộc họp sau anh Chanh có mời nhưng không lần nào anh dự nữa. 

Như Thành ủy và Hội Cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh đã xác định “Tất cả các Ban liên lạc truyền thống Cựu chiến binh và Hội đồng hương đều là tổ chức tự giác , tự nguyện, tự lo tổ chức, nội dung và kinh phí để giúp đỡ nhau, giao lưu và họp hành. Trên ý nghĩa đó, Hội đồng hương Mỹ Lợi chúng ta là dựa trên tinh thần nhiệt tình vì quê hương nhưng nghèo về vật chất. Nên những ngày đầu nhờ có sự hảo tâm của anh Đặng Văn Vui tài trợ kinh phí là chủ yếu. Lần thứ nhất ở Bảo tàng Miền Đông, lần thứ hai ở Đầm Sen, lần thứ ba ở Hồ Kỳ Hòa. Sau đó, những lần tiếp theo từ Tết năm Đinh Sửu (1997) trở đi, anh Vui thường đau ốm nên ít khi đến dự. 
Từ đó, thiếu kinh phí của nhà tài trợ, hội vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc họp mặt đồng hương từ là Mỹ Lợi rồi Mỹ Lợi – Bình Dương để trước mừng Đảng mừng Xuân, mừng đất nước phát triển, quê hương thanh bình, thăm hỏi động viên nhau giữa những người Mỹ Lợi – Bình Dương sinh sống trên Thành phố mang tên Bác, chia sẻ nhau những niềm vui, nỗi buồn, chúc nhau một năm mới đầy thắng lợi, bình an, may mắn, góp phần xây dựng thành phố, nơi mình đang sinh sống ngụ cư và một phần rất nhỏ đóng góp cho quê hương bổn quán chút ít quĩ khuyến học tiếp sức cho con em đến trường, gọi là tình nghĩa của tấm lòng người xa quê. Kinh phí cho các cuộc họp hằng năm và giúp đỡ khuyến học ngoài quê đều do anh chị em đóng góp. Số tiền tuy ít nhưng đó tiền tình tiền nghĩa, ấm áp biết chừng nào. 

Ý nghĩa hội họp đồng hương của chúng ta là lấy tình nghĩa làm trọng, còn về vật chất giúp đỡ nhau chúng ta không có khả năng. Chủ yếu là thăm hỏi khi ốm đau trọng bệnh, phúng điếu lúc có người từ giã cõi trần. Chỉ có vậy, nhưng tôi thấy cái tình quê hương thật đậm đà tha thiết. 
Ngày nay Ban liên lạc cũ đã trải qua 14 năm …..

MK chấp bút.
------- 


* Bài viết chưa xong, bác Thiếu tướng Phùng Đình Ấm tuổi già sức yếu, qua cơn đau tim nặng, được Bác sĩ tận tình chăm sóc nhưng không qua khỏi, Bác qua đời đột ngột vào ngày 16/2/2011, để lại bao tiếc thương cho gia đình, ban bè và bà con quê hương .
Nguồn: http://nguoisaigon.vn/diendan/showthread.php?t=8012&page=1
 
 
 
 
 

LTS: Khi bài báo này lên khuôn, chúng tôi nhận được tin vào hồi 14 giờ ngày 16/2/2011, Thiếu tướng Phùng Đình Ấm đã đi xa, như ông từng nói là ông“ về với các cụ Mác- Lênin và Bác Hồ vĩ đại”. Bài báo này có thể là những dòng viết cuối cùng của tác giả và báo Sức khỏe& đời sống xin thay mặt ông gửi tới bạn đọc và những người thầy thuốc và bệnh viện mà ông yêu mến.

Là một cán bộ tiền khởi nghĩa và là một tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, qua nửa thế kỷ trong quân ngũ, công tác và chiến đấu trải qua nhiều chiến trường gian khổ, đến tuổi về hưu, mang trên mình nhiều bệnh tật, có bệnh thuộc loại hiểm nghèo, nhờ có Bệnh viện Thống Nhất mà tôi vượt qua, đến nay đã ở tuổi 83, ngồi viết mấy dòng chữ trong những ngày Xuân Tân Mão.

 

 Bệnh viện Thống Nhất hiện nay.
Tôi nhớ lại năm 1977, tôi bị tai biến mạch máu não, miệng méo, lưỡi đơ, bại liệt tay và chân trái. Cũng tại Bệnh viện Thống Nhất, các bác sĩ, y sĩ, hộ lý tận tình điều trị, đã cứu tôi thoát khỏi hiểm nghèo và sau 4 tháng cứu chữa, tôi đã hồi phục sức khỏe, tuy không được như xưa. Sau đó, tôi tham gia vào cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam chống bọn phản động Pôn Pốt, giúp bạn (cách mạng Campuchia) xây dựng lại lực lượng vũ trang và tiếp tục làm nghĩa vụ quốc tế… Đây là lần thứ nhất tôi vô cùng biết ơn Bệnh viện Thống Nhất đã cứu chữa tôi qua khỏi căn bệnh hiểm nghèo và kéo dài thời gian tại ngũ của người lính Bộ độ Cụ Hồ, bảo vệ đất nước và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất nước Campuchia hàng chục năm trời.

 

Lần thứ hai, năm 2005, tôi bị suy thận mạn, sức khỏe tôi suy sụp, lại vào Bệnh viện Thống Nhất điều trị bằng phương pháp lọc máu thận nhân tạo. Ở đây, tôi được bác sĩ trưởng khoa thận Nguyễn Văn Bách và các bác sĩ Khoa thận tận tình, chu đáo, vừa lọc thận vừa điều trị, sức khỏe tôi dần dần ổn định và hồi phục, kéo dài nay đã 6 năm. Trong lúc đang điều trị  bệnh hiểm nghèo suy thận mạn, năm 2007, tôi bị nhiễm trùng máu, nhờ có nữ bác sĩ Khê và tập thể Khoa AI của Bệnh viện Thống Nhất tận tình điều trị, sau 2 tháng, tôi xuất viện với sức khỏe hồi phục. Lần nữa tôi ghi ơn bệnh viện.

Năm 2009 - năm cả nước kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn, là một thành viên trong công cuộc mở đường đầu tiên từ năm 1959 – 1960, đặc biệt là đoạn đường cuối dãy Trường Sơn nối liền hai chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tôi hăng hái tham gia các cuộc họp truyền thống, viết báo cáo cho một số tờ báo nói về lịch sử ngày mở đường, là chủ biên, tôi gấp rút hoàn thành cuốn sử “Mở đường Hồ Chí Minh đoạn từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ” và viết báo tham khảo để đọc trước cuộc dự thảo lớn do Bộ Tư Lệnh Quân khu 7 và Tỉnh ủy Bình Phước tổ chức về nội dung cuộc mở đường đoạn Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ, hoàn chỉnh con đường chiến lược mang tên Bác Hồ trong chống Mỹ cứu nước vào ngày 29/5/2009 tại Đồng Xoài. Rủi thay, bản tham luận tôi không được trực tiếp đọc mà phải do người khác đọc thay trước cuộc hội thảo. Vì trước đó 1 ngày, tôi bị nhồi máu cơ tim, vào cấp cứu ở Bệnh Viện Thống Nhất. Ở đây, bác sĩ Bệnh viện phát hiện ngoài nhồi máu cơ tim, tôi còn thêm bệnh tràn dịch phổi và bệnh thận cũng có cơ nguy hiểm hơn.Thế là cùng lúc 3 căn bệnh hiểm nghèo tấn công vào con người tôi “tim nghẽn, thận teo, phổi tràn dịch” mà trọng điểm là nhồi máu cơ tim, phải đến 3 lần cấp cứu mới qua được nguy hiểm, tính mạng tôi lúc đó như nghìn cân treo sợi tóc.Tưởng rằng đã đến lúc đi theo các cụ Mác-Lênin và Bác Hồ vĩ đại về nơi chín suối, nhưng kỹ thuật y học hiện đại cùng tinh thần tận tụy và y đức cao cả của đội ngũ bác sĩ, y sĩ, hộ lý của bệnh viện mà trực tiếp là Giám đốc Bệnh viện GS.TS.BS. Nguyễn Đức Đông; Phó Giám đốc Trưởng khoa Tim mạch, TS.BS. Hồ Thượng Dũng; Trưởng khoa Thận Nguyễn Văn Bách cùng y bác sĩ hai khoa nói trên đã giúp tôi qua cơn nguy hiểm. Sau hơn 1 tháng được điều trị tích cực tại BV Thống Nhất, tôi trở về gia đình. Sống với gia đình hơn 1 năm qua, tôi vẫn thường xuyên tập thể dục, đi bộ, viết báo, viết sách và vui cùng con cháu.

Một lần nữa, tôi vô cùng biết ơn Bệnh viện Thống Nhất, các bác sĩ, y sĩ, nhân viên bệnh viện với tinh thần lương y như từ mẫu đã tận tình cứu chữa cho tôi thoát khỏi bàn tay tử thần, đưa tôi từ cõi chết trở về với gia đình. Trong những ngày còn sống vui cùng các con cháu, tôi luôn tôn vinh Bệnh viện Thống Nhất như là 1 “đại ân nhân” và tôi tin rằng không phải riêng tôi mà Bệnh viện Thống Nhất cũng là ân nhân của hàng nghìn bệnh nhân khác, đặc biệt là các bậc lão thành cách mạng, các cựu chiến binh, tướng lĩnh, các cán bộ khác đã được Bệnh viện Thống Nhất cứu chữa, là chỗ dựa sức khỏe của họ trong những ngày cuối đời.

Được biết, tiền thân của Bệnh viện Thống Nhất ngày nay là Bệnh viện K71 của quân giải phóng miền Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một bệnh viện đã có truyền thống xuất sắc trong cứu chữa thương bệnh binh, là nơi tin cậy của quân giải phóng. Ngày nay, Bệnh viện Thống Nhất đã kế thừa và phát huy truyền thống đó trong tình hình mới với những bước tiến mới của y học nước nhà, tôi tin tập thể thầy thuốc Bệnh viện Thống Nhất nhất định sẽ lập được những thành tựu huy hoàng hơn.

            29 Tết Tân Mão – 2011

 Thiếu tướng Phùng Đình Ấm

 

Tặng 150 triệu đồng tiền phúng điếu làm từ thiện



(SGGP).- Sáng ngày 1-3, chị Phùng Thị Kim Anh, con gái út của Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (tức Ba Cung) đã đến tặng Quỹ Từ thiện - xã hội Báo SGGP số tiền 50 triệu đồng để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn và bệnh nhân cơ nhỡ.

 

Số tiền này được trích từ tiền phúng điếu tại đám tang Thiếu tướng Phùng Đình Ấm (từ trần ngày 16-2-2011, hưởng thọ 83 tuổi).

Theo di nguyện của Thiếu tướng, gia đình sẽ tiếp tục ủng hộ Hội Khuyến học họ tộc Phùng (tỉnh Bình Định), Hội Khuyến học Khu phố 1, phường 7, quận Tân Bình và đồng bào nghèo huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông trên 100 triệu đồng.

L.Nhung


 

Tác giả bài viết: BLL họ Phùng VN(st)

Nguồn tin: Theo www.qdnd.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Vua Phùng Hưng

                 

  

 

   

 

   

Địa điểm truy cập Web

Locations of Site Visitors

Danh mục

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 83

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 82


Hôm nayHôm nay : 527

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 29350

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6238501

Đặt Logo, Banner