BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG PHÙNG HƯNG - SỰ THẬT VÀ HUYỀN THOẠI

Lời Ban Biên tập: Thực hiện sự chỉ đạo của Hội đồng họ Phùng Việt Nam, thời gian tới họ Phùng Việt Nam sẽ tiến hành tổ chức Hội thảo Khoa học về Bố Cái Đại vương Phùng Hưng - Người có công lớn lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đổ ách đô hộ của nhà Đường, giành độc lập dân tộc, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Ban Biên tập đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt thành của các Nhà Khoa học, Nhà Nghiên cứu Lịch sử, các Giáo sư Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử và ngành Khoa học Xã hội Nhân văn. Chúng tôi tiến hành công bố lần lượt các tham luận Khoa học dự kiến sẽ trình bày tại Hội thảo.

THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG PHÙNG HƯNG

 

Phùng Hưng - Sự thật và huyền thoại!

                                                                          PGS.TS Nguyễn Thanh Tú

   Sách Việt điện u linh viết tổ tiên Phùng Hưng đời đời là tù trưởng ở châu Đường Lâm. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí Phan Huy Chú cho biết châu Đường Lâm có tên tục là Kẻ Mía. Đến nay những cái tên nôm chùa Mía, phố Mía, bến Mía, chợ Mía, bà chúa Mía… vẫn nằm trong vốn từ vựng dân gian ở vùng này. Các sáchĐại Việt sử ký toàn thư,Đại Nam nhất thống chíđều chung nhận định: “Bố Cái Đại vương Phùng Hưng và Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm. Các sách cổ đều nhận định ngày xưa đất này là rừng rậm gọi là Đường Lâm, thời thuộc Đường có Phùng húy là Hưng, đến thời Ngũ đại có Ngô Vương húy là Quyền, hai vương cùng ở một ấp, việc ấy từ trước chưa có bao giờ”.Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên là quyển sử đầu tiên ghi lại câu chuyện về Bố Cái Đại vương . Quyển này lại dựa vào quyển Việt điện u linh (xuất hiện khoảng năm 1329 đời nhà Trần).

     Chính sử cho biết Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Trí Cái, người đã từng vào trong cung vua Đường Cao Tổ (niên hiệu Vũ Đức) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, một người hiền tài đức độ.Theo dã sử thì Phùng Hưng sinh ngày 25 tháng 11 năm 760 và mất ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 13 tháng 9 năm 802, thọ 41 tuổi. Tuy nhiên, các sách chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi ông mất năm 791 chỉ một thời gian ngắn sau khi đuổi được giặc Bắc phương.

     Năm Nhâm Tuất (722 đời Đường Huyền Tông niên hiệu Khai Nguyên), Phùng Hạp Khanh tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Theo sự tích, Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử. Ông bà sinh một lần được 3 người con trai khôi ngô tuấn tú, lớn lên ai cũng sức vóc hơn người. Anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải, tự là Tư Hào và em út là Phùng Dĩnh, tự là Danh Đạt.

  Đến năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Anh cả Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt. Phùng Hưng nối nghiệp cha trở thành hào trưởng đất Đường Lâm. Cho tới nay dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện ông dùng kế giết hổ dữ mang lại bình yên cho làng xóm. Chuyện kể thuở vùng Đường Lâm bỗng có một con hổ dữ về giết người, bắt gia súc, mọi người không làm gì nổi. Phùng Hưng tìm cách trị hổ cứu dân lành bằng cách làm con bù nhìn bằng rơm, cho mặc quần áo như người thật, đặt ở nơi hổ thường xuất hiện. Hổ đi qua thấy bù nhìn tưởng người, lao vào cắn xé nhưng chỉ có cọc gỗ độn rơm. Vài lần như thế, hổ không còn chú ý tới bù nhìn rơm nữa. Một hôm tối trời, Phùng Hưng cởi trần, thân đóng khố, trát bùn khắp người đứng thế vào chỗ đặt bù nhìn rơm nhằm đánh hổ. Hổ bị lừa nhưng chưa chịu khuất phục, sau một hồi người hổ đánh nhau, cuối cùng Phùng Hưng giáng một cú thôi sơn đập vỡ sọ hổ.

    Việt Nam ta thời thuộc Đường gọi là An Nam đô hộ phủ, khi đó đang nằm dưới ách cai trị hà khắc của bọn quan đô hộ nhà Đường. Chúng ra sức vơ vét của cải, bắt người dân Việt phải đóng sưu cao thuế nặng khiến lòng người căm phẫn. Năm 767, Cao Chính Bình được cử làm An Nam đô hộ sứ càng ra sức vơ vét của cải của nhân dân, đánh thuế rất nặng.

    Là hào trưởng đất Đường Lâm, chứng kiến cảnh quan lại nhà Đường, đứng đầu là đô hộ phủ Cao Chính Bình tàn ngược, áp bức vơ vét của cải không cùng, lòng người oán thán, Phùng Hưng quyết định dựng cờ chiêu hiền đãi sĩ, phát động khởi nghĩa. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) nhân lòng căm phẫn của người dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình (Hà Nội) nổi loạn, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của người dân từ khắp các miền đất Giao châu. Thoạt đầu, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi tiến lên đánh chiếm được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong Châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo và Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng, chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân thắng bại. Tình hình diễn ra như vậy hơn 20 năm.

    Nhìn từ truyền thuyết, tương truyền vợ chồng Phùng Hạp Khanh đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con, một hôm vợ ông đi cầu tự, khi trở về thấy người khang khác. Đêm ấy cả hai vợ chồng Phùng Hạp Khanh đều nằm mộng thấy một tiên ông nói là vâng lệnh Thượng Đế xuống ban thưởng cho người có lòng nhân đức, rồi đưa cho chùm ba quả đào lớn tỏa mùi thơm phức nói là đưa cho thê tử ăn, ắt sinh quý tử. Nói xong vị tiên xoa đầu ông ba cái rồi biến mất. Tỉnh dậy, vợ chồng đều tin rằng đó là giấc mộng lành, sau hôm đó bà có mang, sau 12 tháng, vào một ngày đẹp trời thì sinh ba người con trai, con cả đặt tên là Phùng Hưng (tự là Công Phấn), con thứ hai là Phùng Hải (tự là Tư Hào), con út là Phùng Dĩnh (tự là Danh Đạt). Khi trưởng thành, ba anh em họ Phùng nổi tiếng là người khôi ngô, tuấn tú, thông minh, có chí lớn, giỏi võ nghệ và đặc biệt là sức khỏe phi thường.

    Bản thần tích làng Thịnh Hào (nay thuộc Kim Mã, Hà Nội) thì thời ấy có con yêu quái (gọi là Hắc Hán) thường tác oai tác quái, hãm hại nhân dân. Một hôm Phùng Hạp Khanh trên đường về nhà, lúc đó trời đã tối, con yêu hiện ra chặn đường bị ông rút kiếm chém, từ đó nó biến mất, không xuất hiện nữa. Vì trừ yêu quái, có công với dân nên Ngọc hoàng thượng đế cho ba vị thần xuống đầu thai làm con của Phùng Hạp Khanh. Thần tích có đoạn viết:“Một hôm, đang giờ ngọ vào giấc ngủ trưa, Hạp Khanh mơ thấy ba người. Một người đội mũ đầu hổ, mặc áo chầu thêu rồng, tự xưng là Đại La Thiên sứ thánh. Một người chít khăn phốc đầu, mặc áo màu xanh nhạt, tự xưng là Giao Hải Đại Quan tôn thần. Một người đội khăn đỏ, mặc áo gấm xanh sẫm, tự xưng là Thiên La võ tướng. Cả ba đều diện mạo đường hoàng, thân cao mười thước, có sức đuổi gió, chém chớp, tiến đến trước nhà. Cùng Hạp Khanh tương kiến, chuyện trò. Trong khi hàn huyên, những người này tự bảo rằng:

  - Lúc trước, ông đã trừ Hắc Hán, có thể cứu giải nguy nan cho chúng sinh. Thượng đế khen ngợi lắm, cho rằng ông có công lớn trừ ác. Vì vậy, sai chúng tôi tới đây trao cho ông chức tước mãi mãi, để ông được thành tựu. Ông hãy nhận lấy tước trời, không được từ chối.

    Hạp Khanh mừng rỡ tỉnh dậy, nhìn ra cửa sổ phía Tây. Vừa tỉnh dậy, còn nhớ rành rành giấc mộng, nghĩ thầm không biết thế nào. Tháng ấy, phu nhân có mang, 14 tháng sau mới sinh được ba bé trai, tướng mạo khác thường”.

    Việt điện u linhchép lại những huyền tích dân gian kể sau khi mất, Bố Cái Đại vương Phùng Hưng rất linh thiêng:“Sau khi mất, Bố Cái Đại vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa. Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía Tây của phủ đô hộ.Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt. Khi Ngô Tiên Chủ dựng nước, bọn giặc Nam Hán sang cướp nước ta. Ngô Tiên Chủ ngày đêm lo nghĩ tìm cách chống đánh. Thế rồi một đêm, Ngô Tiên Chủ nằm mơ, thấy có một cụ già áo mũ chỉnh tề, đến nói rõ họ tên của mình và bảo rằng:

     - Ta đã trù tính, sắp sẵn các đội thần binh để giúp sức nhà vua, xin nhà vua hãy gấp tiến binh, đừng lo nghĩ gì cả.

     Đến khi Ngô Tiên Chủ ra đánh giặc ở sông Bạch Đằng, nghe trên không có tiếng binh mã ầm ầm, và quả nhiên trận ấy được đại thắng.

    Ngô Tiên Chủ lấy làm lạ, liền sai sửa sang ngôi đền, khiến cho đền rộng rãi và lịch sự hơn xưa. Xong, Ngô Tiên Chủ đem các thứ lễ vật cùng cờ quạt chiêng trống đến để tế lễ. Sau, các triều quen dần thành lệ. Thời Trần, vào năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), nhà vua (Nhân Tông) sắc phong là Phù Hựu Đại Vương. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288) lại gia phong thêm hai chữ Chương Tín. Năm Hưng Long thứ 20 (1312), vua (Anh Tông) gia phong thêm hai chữ Sùng Nghĩa. Đến nay, sự linh thiêng vẫn được sùng phụng như xưa”.

   Thần tích làng Thịnh Hào cũng có đoạn ghi chép tương tự như sau: “Sau khi Vương chết, rất linh ứng, dân chúng cho là thần, lập tức dựng đền ở phía tây đô phủ để thờ cúng. Phàm có những việc trộm cắp bất minh, đến đền minh thệ, lập tức sẽ thấy lành dữ. Vì vậy, ở đây hương hỏa không ngớt. Đến khi Ngô Tiên Chủ sáng nghiệp khai quốc, quân Nam Hán sang xâm lược. Tiên Chủ rất lo lắng, đêm mơ thấy Vương mặc áo giáp sáng, đốc lĩnh trăm vạn hùng binh, tướng soái ngàn người, đều cầm đao thương qua kích, cờ biển ngựa voi đông vô kể. Khi gặp Tiên Chủ, tự xưng họ tên rồi nói rằng:

       - Bọn thảo khấu ngu xuẩn ấy đâu đáng nhắc tới. Ta sẽ giúp hiền khanh một tay.

     Tiên Chủ lấy làm lạ, tỉnh giấc. Đến khi dẹp xong giặc, Tiên Chủ xuống chiếu cho xây dựng đền thờ đường bệ, nghiêm trang, trồng hoa cỏ, treo cờ lớn, cử nhạc, nổi trống, cúng lễ thái lao. Các triều sau đều theo lễ này”.

   Đánh giá về công lao của Bố Cái Đại vương dân gian có câu: “Vương Phùng Hưng ở Đường Lâm/ Vẫn còn ghi những tháng năm huy hoàng”.

     Nhiều truyền thuyết còn đi sâu hơn vào suy nghĩ, tâm trạng Phùng Hưng trước khi khởi nghĩa. Ví như một đoạn tâm trạng dưới dạng câu hỏi: “Đất nước ta từ khi có vua Hùng lập quốc, có núi Tổ, sông Hồng anh linh đến vạn thuở, cớ sao bây giờ vẫn phải chìm đắm mãi trong cảnh lầm than? Ta phải cùng các anh hùng hào kiệt cứu lấy gian sơn, đánh cho giặc tan tành. Đất nước ta phải do người nước ta làm chủ, chứ lẽ nào phải cống nạp mãi?”.

      Phùng Hưng nuôi ý định dấy binh cùng hai người em. Vào đúng ngày đầu tháng ba (âm lịch), ba anh em lập một đàn tràng, thảo sớ tấu trình Ngọc Hoàng Thượng đế, xin về việc khởi nghĩa sắp tới. Đột nhiên có đám mây ngũ sắc sà xuống, một tiên ông tóc bạc trắng đỗ hạc bước ra. Anh em Phùng Hưng cúi đầu bái tạ. Tiên ông nói: “- Ta ở Tây Vực, đi chu du chín châu tám biển, thấy hương trầm ngào ngạt, lại thấy đàn tràng thiết lập trang nghiêm, nên cảm động mà tới. Nói xong, tiên ông lấy từ túi áo ra một chiếc móng rồng và một khối ngọc, đưa cho Phùng Hưng. Ba anh em cúi đầu cảm tạ, nhưng vừa ngẩng lên, đã thấy đám mây ngũ sắc sà xuống, và tiên ông cưỡi hạc bay đi. Ba anh em lại vội vàng nhìn xuống thấy hai vật lạ nhưng băn khoăn không biết dùng để làm gì? Lại phải thỉnh cầu Thượng đế lần thứ hai vậy. Họ thay lễ vật trên đàn tràng, thay đèn nhang và cùng quỳ xuống. Phùng Hưng sớ: “- Chúng con lòng thành, xin kính dâng Ngọc Hoàng Thượng đế. Ngài đã ban cho hai báu vật, nhưng chúng con người trần mắt tục, chưa biết dùng vào việc chi. Vậy kính mong Ngài hãy mở lòng chỉ bảo”. Vừa dứt lời, đã thấy giữa không trung nổi lên một ánh chớp sáng lòa. Lập tức, bốn thiên thần đội mũ trụ, cũng cưỡi mây bay xuống. Một vị nói: “- Ngọc Hoàng phái Tiên ông xuống cho Ngài hai báu vật ấy, một làm chuôi kiếm, một làm quốc ấn. Tác thành như vậy là để Ngài dùng vào việc giữ nước”. Nói xong, cả bốn thiên thần liền cưỡi mây bay đi. Anh em Phùng Hưng chỉ còn biết quỳ xuống bái tạ. Thế là thuận lòng trời! Sau lễ tế cáo, ba anh em chế tạo ngay một thanh kiếm thật sắc, rồi tra vào chuôi được làm từ móng rồng, ở giữa khắc ba chữ “Thiên linh kiếm”. Còn khối ngọc đã sẵn có hình vuông, chỉ khắc vào mấy chữ là thành quốc ấn. Ba anh gọi đó là “Thiên bảo ấn”.

   Từ đó, Phùng Dĩnh ở nhà trông coi công việc trong châu, còn Phùng Hưng và Phùng Hải chia nhau đi khắp các vùng gần xa, chiêu tập hào kiệt. Phùng Hưng đổi tên Cự Lão, Phùng Hải đổi tên là Cự Lực. Sẵn có sức khỏe hơn người, hai anh em đến các sới vật thường xuyên tổ chức trong các kỳ lễ hội tại các địa phương, vừa để tham gia mà cũng vừa là cách tốt nhất để nhận mặt làm quen với các anh tài. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo. Đi đến đâu hai anh em cũng được mọi người mến mộ. Các tay đô vật ở khắp các trang ấp đều rất mực phục tài anh em Đô Quân và Đô Bảo, lại vừa nhận thấy ở họ những tấm lòng thật hào hiệp, quảng đại, nên khi nghe nói tới việc dựng cờ khởi nghĩa, họ đều nhiệt liệt hưởng ứng và cùng nhau hẹn ngày khởi sự.

    Sau mấy tháng đi khắp các vùng, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải trở về nhà. Nhân ngày húy kỵ ông bố 11 tháng 3, ba anh em làm cỗ thật to, mời tất cả anh em, họ mạc và dân làng. Lại mời tất cả bạn bè và hàng ngũ chức sắc dưới quyền trong châu Đường Lâm, đó là các trang ấp trưởng. Trong bữa cỗ, mọi người ăn uống vui vẻ, rồi sau đó bàn sang chuyện khởi nghĩa. Anh em Phùng Hưng đưa ra “Thiên linh kiếm” và “Thiên bảo ấn”. Các trang ấp trưởng và mọi người đều đặt tay lên ấn kiếm mà hứa cùng đem thân vì nghĩa… Ba ngày sau, mấy ngàn dân binh đã được tuyển mộ. Phùng Dĩnh ở lại trông coi các việc, Phùng Hưng, Phùng Hải mượn tiếng là đi tuần thú trong châu dẫn quân xuống phía nam, đến Thời Trung trang (nay là làng Chuông, tức xã Phương Trung - Thanh Oai - Hà Tây) thì dừng lại. Đây là địa điểm thuận lợi cho việc tập luyện, phiên chế quân ngũ, vừa đủ xa để bọn giặc đóng ở thành Đại La (Hà Nội) không dòm ngó tới, lại vừa đủ gần để từ đây có thể hành quân bất ngờ tấn công quân địch. Tại đây, như đã hẹn trước, các anh tài khắp nơi mang theo những người cùng chí hướng, lục tục tìm về. Trong vòng một tuần quân số đã lên tới hàng vạn. Sau mấy tuần phiên chế và tập luyện, vào đầu mùa Hạ, tháng 4 năm 791 (Đường Trinh Nguyên năm thứ 7), theo kế của Đỗ Anh Luân một danh sĩ cùng người Đường Lâm, là bạn chơi với Phùng Hưng từ nhỏ, nay là quân sư lo việc bày binh bố trận- anh em Phùng Hưng, Phùng Hải đã mang quân chia làm hai ngả, bao vây thành Đại La trong đêm tối.

    Vì quá bất ngờ nên Cao Chính Bình là viên tướng đảm lược cũng đành chịu bó tay thúc thủ trong thành. Không thể đem quân nống ra ngoài được, vì các nơi hiểm yếu đã bị chặn giữ, Cao Chính Bình đành phải cho một vài tên lính lanh lợi, giữa đêm tối tìm cách lẻn ra, đưa thư cấp báo về nhà Đường, xin tiếp viện. Ba tháng ròng, thành Đại La bị vây chặt. Các viện binh của nhà Đường đến đều bị quân của Phùng Hưng đánh tan. Cao Chính Bình hay tin lo lắng quá thành khối u lớn ở sau lưng. Rồi khối u vỡ, Bình  chết. Khi tin Cao Chính Bình chết bay ra ngoài thành, Phùng Hưng hạ lệnh cho quân lính từ các nơi hiểm yếu, nhất loạt tiến công. Quân nhà Đường chống không nổi, phải kéo cờ trắng ra hàng. Phùng Hưng dẫn đại binh vào chiếm Đô hộ phủ trong niềm hân hoan của mọi người. Tướng sĩ suy tôn ngài là Vi đô Tướng quân. Vi đô Tướng quân lập tức bắt tay vào việc chấn hưng đất nước và xây thành đắp lũy, luyện tập binh mã, để đối phó với nhà Đường sau này.

     Nhưng những công việc mà Ngài thực thi đang tiến triển thì dừng lại, bởi cái chết đến quá đột ngột, vào đúng bảy năm sau, tức năm 798, lúc đó Ngài còn đang ở độ tuổi sung mãn. Xét về công lao cũng như tài năng, đức độ, nhiều người muốn lập Phùng Hải lên thay, vì thấy ông xứng đáng nhất. Nhưng một người đầu mục phụ tá cho Phùng Hưng, và sau này phụ tá cho Phùng An, con trai trưởng của Phùng Hưng tên là Bồ Phá Cần, không tán thành. Bồ Phá Cần là người có sức mạnh vô song, nhưng liều lĩnh và thiển cận, một mực lập Phùng An lên thay, rồi đem quân chống lại Phùng Hải. Không muốn nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi, lại cốt nhục tương tàn nên Phùng Hải né tránh, cùng vài người thân tín, bỏ lên ở động Chu Nham, rồi sống cuộc đời dân dã cho đến lúc già. Phùng An nối nghiệp bố, nhưng là người không có đảm lược lớn. Công việc đầu tiên mà Phùng An tiến hành là tổ chức lễ an táng cho cha thật trọng thể. Dân chúng và binh lính đưa tang, khóc Ngài, thương tiếc, gọi Ngài là Bố Cái, tức cha mẹ, theo cách gọi của thời bấy giờ. Rồi họ lại gọi Ngài là Đại vương, như trước đó vẫn gọi Ngài như thế. Và cái tên ấy còn mãi đến ngày nay.

     Phùng An là người tài hèn trí mọn, không nối được cái chí của cha, chú. Hai năm sau Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm An Nam Đô hộ phủ. Xương đi sau, sai sứ giả đem đồ lễ vật đi trước để dụ dỗ An. An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn quần thần ra hàng. Những người họ Phùng nhiều chí khí và nhiều người họ khác nữa, thấy vậy, bèn tản đi các nơi, không muốn ở lại hợp tác với giặc.

    Khi Phùng Hưng mất, mộ được táng tại phía tây bắc Kinh thành và được lập miếu thờ. Ngày nay, ở đầu phố Giảng Võ - Hà Nội, vẫn còn ngôi mộ của Ngài, trên có văn bia, đề bốn chữ “Phùng Hưng cố lăng”. Còn tại quê hương của Ngài, ngay từ khi Ngài mới mất, dân chúng đã lập miếu thờ. Trước là để tỏ lòng nhớ thương, còn sau là để cúng lễ, cầu mong Ngài ban cho mưa thuận gió hòa, tai qua nạn khỏi, làm ăn phát đạt. Tất cả đều thấy ứng nghiệm, vì vậy “mỗi khi vào ngày tạ lễ, người đến nhiều như núi như biển, bánh xe chật đường”. Về sau, dân chúng xây dựng thêm, miếu mạo nguy nga, lửa hương bất tuyệt” (theo Việt điện u linh). Đúng 100 năm, sau ngày Ngài mất, cũng tại quê hương của ngài (Đường Lâm), một người anh hùng nữa đã ra đời. Đó là Ngô Quyền (898 - 944). Sau khi giết Kiều Công Tiễn trả thù cho bố vợ (Dương Đình Nghệ), Ngô Quyền xưng vương, rồi đánh tan quân Nam Hán ở cửa sông Bạch Đằng. Trước trận đó, thấy quân giặc đông, nhà vua cũng có phần lo lắng, nhưng đêm nằm mộng, bỗng thấy một ông già tóc bạc, mũ áo nghiêm trang … xưng là Phùng Hưng đến cổ vũ và hứa sẽ đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm yếu” (theo Việt điện u linh). Sau trận thắng, nhà vua tạ ơn, xuống chiếu lập đền thờ Phùng Hưng ở làng Cam Lâm to hơn quy mô cũ, và tổ chức lễ hội thật trọng thể. Từ đó thành điển lệ. Các triều đại về sau đều có sắc thượng phong: “Phụ hựu”, “Chương tín”, “Sùng nghĩa”. Đó là những tên hiệu mà các triều Trần trùng hưng đã tặng thêm cho Ngài.

    Từ góc nhìn lễ hội dân gian, làng Triều Khúc(xã Tân Triều, quận Thanh Xuân, Hà Nội ngày nay) vẫn còn giữ điệu múa Con đĩ đánh bồng do các chàng trai giả gái biểu diễn, tái hiện truyền thuyết Bố Cái Đại vương Phùng Hưng cho một số binh sĩ giả gái múa bồng để làm tăng sỹ khí toàn quân trước khi xuất quân, do trong quân bấy giờ chỉ toàn đàn ông.

    Lễ hội làng Triều Khúc diễn ra từ ngày 9 đến 12 tháng Giêng âm lịch hàng năm, với nghi thức rước Thành hoàng Phùng (tức Bố Cái Đại vương Phùng Hưng). Theo truyền thuyết năm 791, Phùng Hưng đưa quân về giải phóng thành Đại La  khỏi tay quân đô hộ nhà Đường và từng đóng quân tại làng. Vì vậy, dân làng Triều Khúc thờ Phùng Hưng là Thành hoàng.Trong ngày hội, các con đĩ đánh bồng đi cùng đoàn rước từ các làng hội tụ về đền chính. Đoàn rước bề thế, long trọng, còn con đĩ đánh bồng thì cợt nhả, đôi lúc gây trò “chọc ghẹo” mọi người. Các con đĩ đánh bồng mặt hoa da phấn, vận áo tứ thân, váy đụp, khăn mỏ quạ, đeo trống cơm được sơn màu đỏ trước ngực, cài bông tai, đeo vòng, say sưa với những động tác mềm mại, linh hoạt theo nhịp trống hội.

     Đáng chú ý là mỗi xóm có một đội múa con đĩ đánh bồng cùng những bài múa cổ được lưu truyền để diễn trong đoàn rước. Tuy nhiên, mỗi làng có cách trang điểm, ăn vận cho con đĩ đánh bồng khác nhau và cũng có những động tác sáng tạo thêm để cho đa sắc thái, giàu biểu cảm hơn. Các chàng trai được chọn múa điệu này phải đảm bảo nhiều điều kiện: là trai tân, được làng xóm yêu quý. Yêu cầu ở người múa là từng động tác, từng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, làm sao phải toát lên được thần thái giống với thiếu nữ đôi mươi.Những điệu múa dựa trên những hoạt động thường ngày, dựa trên cuộc sống lao động của thôn quê, như nhịp cấy lúa, nhịp tát nước, nhịp chơi các trò chơi... Dân gian có câu “lẳng lơ như con đĩ đánh bồng”, những chàng trai hóa thân thành gái thể hiện thành công sự lẳng lơ, cứ đưa tình, cứ ve vãn những thanh niên rước kiệu, rước cờ, gây tiếng cười thoải mái cho khách trẩy hội và diễn tả lại đời sống của ông cha. Từ một điệu múa mua vui, múa con đĩ đánh bồng được đưa vào một phần của các nghi thức tế lễ để “hầu” Thánh.

    Chính sử chép Bố Cái Đại vương cầm quyền không lâu, qua đời ngay trong năm 791. Các sử gia hiện nay xác định ông mất khoảng tháng 5 năm 791. Sau khi mất, Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là Bố Cái Đại vương. “Bố Cái” là “Cha Mẹ”, sách Đại Việt sử ký toàn thư giải thích là: “Con (Phùng Hưng, sau khi cha mẹ mất) tôn xưng (cha) là Bố Cái Đại vương. Tục gọi cha là Bố, mẹ là Cái cho nên lấy làm hiệu”. Trong Việt giám thông khảo tổng luận lại gọi Phùng Hưng là “Phùng Bố Cái”. “Bố” chính là vua (Bua - Bố) và “Cái” là lớn. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Dân chúng tôn (Phùng) Hưng làm Bố Cái Đại vương” và: “Vương thường hiển linh, dân cho là thần, mới làm đền thờ ở phía tây phủ đô hộ, tuế thời cúng tế”. Sau khi Phùng Hưng mất, con trai ông là Phùng An lên nối ngôi. An nối nghiệp được 2 năm thì đất nước lại rơi vào tay giặc.

     Lịch sử cho thấy nền tự chủ do Phùng Hưng xây dựng chỉ tồn tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm. Sau khi đặt nền cai trị, bọn quan quân nhà Đường liên tục truy sát những người trong gia tộc họ Phùng. Theo các dòng sông lớn dòng họ Phùng tỏa về các vùng núi, trung du, các vùng hạ lưu các con sông lớn nhỏ để lập nghiệp, như dòng họ Phùng Quang ở Vĩnh Phúc, dòng họ Phùng Xuân thuộc hữu ngạn sông Bùi (Chương Mỹ - Hà Nội), dòng họ Phùng Văn ở Ba Vì, Phùng Huy ở Thanh Hóa. Việt điện u linh tập chép chuyện về chuyện này: “Hai năm sau đó, vua Đường Đức Tông sai Triệu Xương sang làm đô hộ nước ta. Triệu Xương tới, trước hết, cho sứ giả mang lễ vật đến dụ dỗ Phùng An. Phùng An xin hàng phục. Từ đó, họ Phùng tản mác mỗi người một nơi”.

    Lăng mộ Phùng Hưng ngày nay nằm ở đầu phố Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đền thờ ông được dựng lên ở nhiều nơi như quê hương Đường Lâm, đình Quảng Bá, Tây Hồ, đình Triều Khúc, Thanh Trì, Hà Nội, lăng Đại Áng, Phương Trung, Hoạch An hay phủ Thanh Oai, Hà Nội…Về chuyện Phùng An hàng giặc và giải thích tại sao dân gian lại gọi là Bố Cái Đại vương có nhiều giải thích chưa thống nhất. Theo sách Việt sử tiêu án thì “Ông Hưng đồng lòng với dân chúng, lập em là Hải. Bồ Phá Lặc có sức khỏe đẩy được núi, không chịu theo Hải, lánh ở động Chu Nham. Bồ Phá Lặc lập An là con ông Hưng. An tôn cha là Hưng làm Bố Cái Đại vương (tục gọi cha mẹ là Bố Cái), dân Thổ cho là linh dị, lập đền thờ ở phía tây đô phủ để thờ Hưng”.

   Theo sách Việt điện u linh, con của Phùng Hưng là Phùng An khi lên ngôi tôn Phùng Hưng làm Bố Cái Đại vương, bởi quốc tục xưng cha là Bố, mẹ là Cái, nên mới gọi như vậy

    Theo Việt giám thông khảo tổng luận thì “Phùng Bố Cái là người anh hào ở Đường Lâm ghét sự tàn ngược của Chính Bình, anh em thừa thời quật khởi cứu dân dẹp loạn, ban đức lập công, có thể gọi là bậc vua nhân hậu. Tiếc rằng con trai là an không giữ nổi được cơ nghiệp, do Phá Cần lập nên, rồi đầu hàng Triệu Xương; tuy có Đỗ Anh Hàn là bề tôi mưu việc nước, cũng không cứu vãn được sự bại vong của họ Phùng”.

      Cho tới nay về ngày sinh và ngày mất của Phùng Hưng vẫn chưa rõ. Một nguồn dã sử cho biết Phùng Hưng sinh ngày 25 tháng 11 năm Canh Tý (760) (tức 5-1-761) và chết ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13-9-802), thọ 41 tuổi.      Hầu hết các truyền thuyết dân gian đều kể lại Phùng Hưng chết rồi mà rất hiển linh, thường hiện hình trong dân gian, giúp dân trong lúc hoạn nạn.

      Như vậy cái lõi của truyền thuyết vẫn là sự thật. Nhân vật Phùng Hưng là có thật, khởi nghĩa là có thật, khớp với lịch sử nhưng những huyền thoại thêu dệt là có thể không thật. Ví dụ chuyện Phùng Hưng khoẻ là thật nhưng để cường điệu cái khoẻ ấy lên thì tốt nhất là bằng huyền thoại đánh chết hổ. Chuyện Phùng Hưng hiển linh giúp Ngô Quyền là tưởng tượng dân gian để ghi công người anh hùng và thi vị hoá lòng yêu nước của dân tộc luôn có sự kế thừa, kế tục và luôn được lịch sử ủng hộ.

    Lịch sử về Phùng Hưng sẽ sống mãi và luôn mang tính thời sự: dân tộc này không chịu nô lệ cho ngoại bang và luôn có anh hùng xuất chúng lãnh đạo. Các cuộc khởi nghĩa chỉ thành công khi đoàn kết (ba anh em họ Phùng được sự ủng hộ của dân làng). Ở bất cứ thời điểm nào người lãnh đạo cũng mang tính quyết định, như khi Phùng An hàng giặc cũng là lúc nước mất!

Nguồn tin: www.hophungvietnam.com.vn